- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A V... - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 7 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2017/HSST Ngày 06/ 9/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lò Văn Phốn.
2. Ông Trịnh Xuân Phùng.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Nhung.
Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Đình Hải: Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, mở phiên tòa xét xử, công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 65/2017/HSST ngày 16 tháng 8 năm 2017.
Đối với bị cáo Mùa A V. (Tên gọi khác: Không). Sinh năm 1974.
Nơi sinh: Bản Tả Phình, xã Tả Phình, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.
Nơi ĐKHKTT: Bản Co Lót 1, xã Mường Nhé - Mường Nhé - Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm nương. Trình độ văn hóa: Không.
Dân tộc: Mông. Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Mùa A P và con bà Hờ Thị C.
Có vợ Hù Thị M và có 04 người con, lớn nhất 25 tuổi, nhỏ nhất 04 tuổi.
Gia đì nh bị cá o có 07 anh em ruột, bị cáo là thứ 04 trong gia đì nh.
Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 30 tháng 3 năm 2017. Có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Mùa A V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố về hành vi phạm tội như sau.
Vào khoảng 11 giờ ngày 30 tháng 3 năm 2017, bị cáo Mùa A V đi xe máy nhãn hiệu Taurus – Sr màu trắng đen, không có biển kiểm soát đi ra Km 45, thuộc địa phận xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ để mua ma túy về sử dụng thì gặp người đàn ông dân tộc Xạ Phang, không biết tên, tuổi địa chỉ. Bị cáo Mùa A V đã mua Hê rô in với số tiền là 4.200.000 VND ông ta đưa cho bị cáo một gói nhỏ hê rô in, mua bán xong ông ta đi đâu không biết, mục đích để sử dụng. Đến khoảng 23 giờ 10 phút ngày 30 tháng 3 năm 2017 bị cáo Mùa A V trên đường về đến bản Co Lót 1, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé bị tổ công tác Đồn biên phòng Mường Nhé phát hiện và bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.
Ngày 02 tháng 4 năm 2017 Cơ quan cả nh sá t điề u tra Công an huyệ n Mườ ng Nhé, đã lậ p biên bả n mở niêm phong , xác đị nh trọ ng lượ ng vậ t chứ ng , thu đượ c của bị cáo Mùa A V là: 9,66gam đồ ng thờ i l ấy đi 0,17 gam là m mẫ u vậ t gử i giá m đị nh chất ma túy. Số cò n lạ i là : 9,49 gam.
Bản kết luận giám đị nh số : 474/GĐ – PC 54 ngày 14 tháng 6 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Bi ên kế t luậ n : Mẫ u vật gử i đế n giá m đị nh thu đượ c của Mùa A V là Hê rô in. Số mẫ u vậ t 0,17 gam gử i giá m đị nh không hoàn lại theo quy định của pháp luật. Tổng trọng lượng vật chứng thu được là 9,66 gam là Hê rô in.
Bản cáo trạng số : 50/QĐ – VKS - HS ngày 16 tháng 8 năm 2017 của Viện kiể m sát nhân dân huyệ n Mườ ng Nhé truy tố bị cáo Mùa A V về tộ i “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy đị nh tạ i điểm h khoả n 2 Điề u 194 Bộ luậ t Hì nh sự .
Đạ i diệ n Viện kiể m sát thực hành quyền công tố, tại phiên tòa, lờ i luậ n tộ i giữ nguyên quan điể m truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử.
Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.
Áp dụng điểm h khoả n 2 Điề u 194; điể m p khoản 1 Điều 46 Bộ luậ t Hình sự năm 1999. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Mùa A V: 05 ( Năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 ( sáu) năm 06 ( sáu) tháng tù.
Không áp dụng khoản 5 Điề u 194 Bộ luậ t Hì nh sự , hình phạt bổ sung là phạt tiề n đối với bị cáo Mùa A V.
Áp dụng Điề u 41 Bộ luậ t Hì nh sự ; Điề u 76 Bộ luậ t tố tụng Hình sự. Tịch thu vật chứng tiêu hủ y theo quy đị nh pháp luật.
Bị cáo Mùa A V không tranh luậ n gì , về nộ i dung bả n luậ n tộ i , cũng như cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY:
Qua cuộ c thẩ m vấ n công khai t ại phiên tòa và lời khai nhậ n của bị cáo Mùa A V, tại cơ quan điề u tra, hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Vào hồi 23 giờ 10 phút ngày 30 tháng 3 năm 2017 bị cáo Mùa A Vàng mang trên người gói hê rô in đến bản Co Lót 1, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé bị tổ công tác Đồn biên phòng Mường Nhé phát hiện và bắt quả tang hành vi tàng trữ 9,66 gam Hê rô in với mụ c đí ch để sử dụng.
Bị cáo Mùa A V có đủ năng lực chịu trá ch nhiệ m hình sự, biế t rõ “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” là trái quy đị nh củ a phá p luậ t sẽ bị trừng trị, nghiêm minh.
Hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo Mùa A V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố về tộ i “ Tàng trữ trái phép chất ma tú y” quy đị nh tạ i điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luậ t Hì nh sự , là hoàn toàn đúng ngườ i, đú ng tộ i và đú ng quy đị nh củ a phá p luậ t.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo Mùa A V là rất nghiêm trọ ng, nguy hiể m cho xã hộ i , xâm hại đế n chí nh sá ch độ c quyề n, quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Đồng thờ i ảnh hưởng đến trậ t tự , an toàn xã hội tại vùng sâu , vùng xa biên giớ i. Bị cáo Mùa A V lẽ ra phải làm gương cho vợ, con noi theo học tập.
Xét về nhân thân bị cáo Mùa A V sinh ra và l ớn lên ở bản Tả Phình, xã Tả Phình, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, không được đi học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 1992 chuyển cùng gia đình về xã Huổi Lèng, huyện Mường Chà. Năm 1999 lấy vợ. Tháng 02 năm 2016 cùng gia đình chuyển về làm ăn sinh sống tại bản Co Lót 1, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé làm ăn sinh sống. Bị cáo Mùa A V có nhận thức rất rõ, về tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và ảnh hưởng đến kinh tế gia đình.
Trong qúa trình điều tra , truy tố , xét xử bị cáo Mùa A V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điể m p khoản 1 Điề u 46 Bộ luậ t Hì nh sự . Bị cáo Mùa A V là người dân tộc ít người sống ở vùng sâu, vùng xa nên nhận thức pháp luật còn hạn chế.
Xét thấy cần ph ải cá ch ly bị cáo Mùa A V ra khỏ i đờ i số ng xã hộ i , mộ t thờ i gian nhấ t đị nh, để cải tạo , trở thà nh ngườ i có í ch đồ ng thờ i cũ ng răn đe , phòng ngừ a chung trong quầ n chú ng nhân dân và nhữ ng ai đang có ý đị nh thự c hiệ n hà nh vi phạm tộ i như bị cá o Mùa A V bị pháp luật trừng trị, nghiêm minh.
Tại phiên tò a; bị cáo Mùa A V đề nghị Hội đồng xét xử , xem xé t giả m nhẹ hình phạt cho bị cá o, lý do gia đình gặp nhiều khó khăn. Hộ i đồ ng xé t xử , sẽ xem xét, khi lượ ng hì nh phạ t đối với bị cáo.
Căn cứ khoản 5 Điề u 194 Bộ luậ t Hình sự , bị cáo Mùa A V còn bị hình phạt bổ sung là phạ t tiề n ; Hộ i đồ ng xé t xử , xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo Mùa A Vàng còn gặp nhiều khó khăn nên không áp dụng.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Taurus – Sr màu đen trắng qua điều tra xác minh chiếc xe máy đó là của anh Mùa A Chồng nên đã trả lại.
Đối với chiếc điện thoại Gionee là tài sản riêng không liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho bị cáo Mùa A V.
Xét thấy đối với người đàn ông dân tộc Xạ phang bán Hê rô in cho bị cáo. Cơ quan điều tra không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu nên không đủ cơ sở, để xác minh làm rõ. Nên Viện kiểm sát không truy tố; Do vậy Hội đồng xét xử, không xem xét trong vụ án.
Về vật chứng vụ án: Áp dụ ng Điề u 41 Bộ luậ t Hì nh sự ; Điề u 76 Bộ luậ t tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủ y 9,49 gam Hê rô in.
Về án phí : Căn cứ Điề u 99 Bộ luậ t tố tụ ng Hì nh sự ; Điề u 23 Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về á n phí , lệ phí Tòa á n. Bị cáo Mùa A V thuộc diện hộ nghèo và có đơn nên không phải chịu á n phí theo quy đị nh củ a phá p luậ t.
Vì các lẽ trên:
QUYẾ T ĐỊ NH:
1.Tuyên bố bị cá o: Mùa A V phạm tộ i “ Tàng trữ trái phép chất ma tú y”.
Áp dụng điểm h khoản 2 Điề u 194; điểm p khoản 1 Điề u 46 Bộ luậ t Hì nh sự năm 1999. Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Mùa A V: 06 ( Sáu) năm tù. Thờ i hạ n tù tí nh t ừ ngày bắt tạ m giữ ngà y 30 tháng 3 năm 2017.
2 .Về xƣ̉ lý vậ t chƣ́ ng : Áp dụng điểm c khoản 1 Điề u 41 Bộ luậ t Hì nh s ự; điểm a khoản 2 Điề u 76 Bộ luậ t tố tụ ng Hì nh sự :
- Tịch thu tiêu hủy: 9,49 gam Hê rô in đã niêm phong là vật chứng vụ án Mùa A V. Theo biên bả n bà n giao giữ a Công an huyệ n Mườ ng Nhé và Chi cụ c thi hà nh án dân sự huyện Mườ ng Nhé ngày 17 tháng 8 năm 2017.
3. Về á n phí : Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điề u 12 Nghị Quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về á n phí, lệ phí Tò a á n. Miễn á n phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa A V.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo . Bị cáo Mùa A V đượ c quyề n khá ng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngà y tuyên á n.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV -THA ( TA tỉnh); - VKSND huyện Mường Nhé; - Công an huyện Mường Nhé; - Phòng HCTP Sở Tư Pháp; - Bị cáo; - TB UBND xã ; - Chi Cục THADS huyện Mường Nhé; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Giàng A Bách |