vanban.org

Bản án 58/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 26/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2017/HSST
Ngày: 26/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chu Nhương và bà Trần Thị Ngọc.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Hân - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lý nhân, tỉnh Hà nam tham gia phiên toà: Ông Trần Xuân Sáng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 53/2017/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2017, đối với bị cáo:

Đoàn Thanh T, sinh năm 1976; nơi cư trú: Xóm 1, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 8/12; con ông Đoàn Thanh T và bà Vũ Thị M; Vợ con: Chưa. tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 51/2013/HSST ngày 06/9/2013, Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xử phạt bị cáo 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Nhân thân: Bản án số 02/2006/HSST ngày 19/01/2006, Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xử phạt 18 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 135 của Bộ luật hình sự; Quyết định số 3280/QĐ-UBND ngày 24/8/2010 của Chủ tịch uỷ ban nhân dân huyện Lý Nhân quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng; Bị tạm giam giữ từ ngày 21/7/2017 cho đến nay; có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Đoàn Thanh T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 21/7/2017, tại trục đường liên xóm thuộc xóm 8, thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, Tổ công tác thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Lý Nhân phát hiện Đoàn Thanh T có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính. Thấy vậy, Đoàn Thanh T lấy từ túi áo ngực đang mặc 01 gói nilon được quấn ngoài bằng băng dính màu vàng, bên trong chứa các hạt tinh thể không màu rồi đưa vào miệng ngậm lại sau đó nhổ ra mặt đường về phía trước bên phải chỗ T đang đứng thì bị thu giữ, được niêm phong ký hiệu QT01. Tại cơ quan điều tra, Đoàn Thanh T không thừa nhận gói nilon màu vàng đó là của T nhưng trong giai đoạn truy tố Đoàn Thanh T đã thừa nhận đó là gói ma tuý đá của T, T mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ ở Chợ Chủ, xã Ngọc Lũ, huyện Bình Lục để sử dụng.

Khi bắt còn thu giữ của Đoàn Thanh T 01 điện thoại di động Viettel; số tiền 10.000 đồng và 01 xe môtô biển kiểm soát 90T7-9344.

Tại kết luận giám định 143/PC54-MT ngày 23/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu QT01 gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, trọng lượng 0,096 gam.

Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 06/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố Đoàn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14 xử phạt bị cáo Đoàn Thanh T từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Thanh T khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân đã truy tố và nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Lời khai của bị cáo Đoàn Thanh T tại phiên tòa là phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với vật chứng thu được. Do đó đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 21/7/2017, tại trục đường liên thôn thuộc xóm 8, thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, Công an huyện Lý Nhân bắt quả tang Đoàn Thanh T đang tàng trữ 01 gói ma tuý, loại Methamphetamine, trọng lượng 0,096 gam để sử dụng trái phép.

Đoàn Thanh T đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chưa được xoá án tích nên hành vi nêu trên của Đoàn Thanh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo Đoàn Thanh T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự địa phương.

Khi quyết định hình phạt cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, bố bị cáo là thương binh - Là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14 thì mức hình phạt đối với bị cáo được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo có nhân thân rất xấu, vì vậy phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể cải tạo được bị cáo, đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi nên không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Số tiền 10.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động thu của bị cáo không liên quan đến việc phạm tôi nên trả lại cho bị cáo. Các vật chứng hoàn lại sau giám định không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe môtô biển kiểm soát 29T7-9344 thu của bị cáo Đoàn Thanh T do T mượn của anh Trần Xuân B. Anh B khai mua của một người không quen biết tại thành phố Hà Nội không có giấy tờ xe và hiện nay chưa xác định được chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đang quản lý và tiếp tục làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự

Tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 - Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội:

Xử phạt bị cáo Đoàn Thanh T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam giữ 21/7/2017.

2. Về xử lý vật chứng

Áp dụng khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả bị cáo Đoàn Thanh T số tiền 10.000 đồng (mười nghìn đồng) và 01 điện thoại di động Viettel nhưng quản lý để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định số 243/PC54-MT của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, bên trong có 0,084 gam mẫu QT01 cùng toàn bộ bao gói mẫu vật.

3. Về án phí

Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/1016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Đoàn Thanh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ