- Tranh chấp gì? án dân sự — "hop dong mua ban"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 430 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2017/DS-ST Ngày: 21-8-2017 V/v “T/c Hợp đồng mua bán” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Trường
2. Ông Trần Văn Chu
- Thư ký phiên tòa: Bà Giả Huệ Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri – Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Dư ng Thy Tr c Phư ng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử s thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2017/TLST-DS ngày 02/6/2017 về việc “Tranh chấp Hợp đồng mua bán” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2017/QĐST - DS ngày 26 tháng 7 năm 2017 và quyết định hoãn phiên tòa số: 47/2017/QĐST - DS ngày 11 tháng 8 năm 2017 giữa các đư ng sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lưu Văn T, sinh năm 1961; tr tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1973; địa chỉ ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (có mặt).
2. Bị đơn:
2.1 Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1969 (vắng mặt);
2.2 Bà Lê Thị Công E, sinh năm 1968 (có mặt);
Cùng địa chỉ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị H sinh năm 1950; địa chỉ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1973; địa chỉ ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25/5/2017 và trong quá trình t tụng, nguyên đơn ông Lưu Văn T và người đại diện theo ủy quyền của ông T là ông Nguy n Tấn Đ (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị H) trình bày:
Nguyên ông T là chủ doanh nghiệp tư nhân Phước H hành nghề kinh doanh xăng dầu chuyên cung ứng dầu DO và các phụ kiện khác cho tàu cá đánh bắt thủy sản. Trong quá trình kinh doanh, trong năm 2014, ông T đã nhiều lần bán dầu cho ông T và bà Công E. Việc mua bán giữa hai bên chỉ thỏa thuận miệng, thời gian trả tiền là ngay sau khi đánh bắt vào. Tính đến ngày 25/10/2014, ông T và bà Công E còn nợ lại số tiền 95.986.000 đồng. Do bị đ n thực hiện không đ ng nghĩa vụ thanh toán như thỏa thuận nên ông T gởi đ n yêu cầu giải quyết. Sau buổi hòa giải tại địa phư ng, ông T và bà Công E có trả được số tiền 12.000.000 đồng, hiện còn nợ lại 83.986.000 đồng. Mặc dù ông T nhiều lần nhắc nhở nhưng ông T và bà Công E vẫn cố tình vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó nay ông T yêu cầu ông T và bà Công E có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ là 83.986.000 đồng.
Trong quá trình t tụng, bị đơn bà Lê Thị Công E trình bày:
Bà thừa nhận từ năm 1992 đến 2014, vợ chồng bà đã nhiều lần mua dầu từ ông T để phục vụ cho việc đánh bắt thủy sản của gia đình. Việc giao kết hợp đồng được hai bên thỏa thuận miệng, hình thức thanh toán một lần ngay sau khi vào bờ. Trong đó, các lần mua dầu từ trước năm 2014, hai bên đã thanh toán dứt điểm. Riêng trong năm 2014, tính đến ngày 25/10/2014, vợ chồng bà còn nợ lại ông T số tiền 95.986.000 đồng. Nguyên nhân vi phạm nghĩa vụ thanh toán thời điểm này là do khó khăn về kinh tế. Sau khi hòa giải tại địa phư ng vợ chồng bà đã trả cho ông T số tiền 19.000.000 đồng, chứ không phải 12.000.000 đồng như trình bày của ông T nhưng không có chứng cứ chứng minh. Nay vợ chồng bà chỉ đồng ý trả cho ông T số tiền còn nợ lại là 76.986.000 đồng và xin được trả dần do hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
Tại phiên tòa:
- Ông Nguyễn Tấn Đ giữ nguyên trình bày, yêu cầu ông T và bà Công E có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền còn nợ là 83.986.000 đồng.
- Bà Lê Thị Công E đồng ý trả cho ông T số tiền 83.986.000 đồng nhưng xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi hết nợ.
- Ông Nguyễn Văn T vắng mặt không lý do.
Quan ñieåm cuûa đại diện Vieän kieåm saùt:
- Về thủ tục: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng. Nguyên đ n, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đ n và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị đ n Lê Thị Công E thực hiện đ ng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Riêng bị đ n Nguyễn Văn T mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt thể hiện việc từ chối thực hiện các quyền, nghĩa vụ được pháp luật quy định. Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Vụ án được đưa ra xét xử là đ ng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Theo hồ s thể hiện thì các bên đều thống nhất đến ngày 25/10/2014, phía bị đ n còn nợ lại nguyên đ n số tiền 95.986.000 đồng; đồng thời bị đ n thừa nhận không lập thủ tục giao nhận tiền trả. Sau ngày 11/6/2015, bà Công E có trả được số tiền 19.000.000 đồng nhưng nguyên đ n chỉ thừa nhận trả có 12.000.000 đồng. Do vậy nghĩa vụ chứng minh khoản tiền chênh lệch thuộc về bị đ n; song họ không xuất trình được tài liệu chứng cứ gì nên phải chịu trả khoản nợ ông T yêu cầu là đ ng. Về phư ng thức thanh toán, bị đ n đề nghị trả dần 1.000.000 đồng/tháng nguyên đ n không chấp nhận nên phải trả ngay. Về nghĩa vụ liên đới trả nợ, qua kết quả xác minh ngày 03/7/2017, vợ chồng ông T, bà Công E xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 1988 đến nay và cùng chung kinh tế gia đình. Vì vậy họ cùng nhau trả nợ cho ông T là đ ng. Do đó, đề nghị áp dụng điều 357, 430, 440 Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đ n buộc ông T và bà Công E trả cho ông T số tiền 83.986.000 đồng. Trường hợp phía bị đ n chậm thực hiện nghĩa vụ còn phải chịu trả lãi tư ng ứng với thời gian chậm trả.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ s vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Ông Nguyễn Văn T mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Văn T về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Công E trả số tiền 83.986.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy. Mặc dù việc giao kết hợp đồng mua bán dầu giữa hai bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói, và chỉ được theo dõi qua sổ ghi chép của hai bên nhưng trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, bà Công E hoàn toàn thừa nhận trong năm 2014 đã nhiều lần cùng ông Nguyễn Văn T giao kết hợp đồng mua dầu với ông T. Khi giao kết hợp đồng, hai bên thỏa thuận thời điểm thanh toán là ngay khi trở vào bờ. Tính đến ngày 25/10/2014, do gặp khó khăn về kinh tế nên ông T và bà Công E còn nợ lại ông T số tiền 95.986.000 đồng. Sau khi hòa giải tại địa phư ng, ông T và bà Công E có trả cho ông T một số tiền. Theo nguyên đ n, số tiền được trả tổng cộng là 12.000.000 đồng nhưng bị đ n không đồng ý. Bị đ n cho rằng tổng số tiền đã trả là 19.000.000 đồng, nhưng không có chứng cứ chứng minh đối với số tiền chênh lệch. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bà Công E đồng ý trả số tiền 83.986.000 đồng theo yêu cầu của nguyên đ n. Bên cạnh đó, căn cứ vào trình bày của bà Công E và kết quả xác minh tại địa phư ng, Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù ông T và bà Công E chung sống với nhau từ năm 1988 đến nay, không có đăng ký kết hôn nhưng số tiền còn nợ của nguyên đ n xuất phát từ việc ông T và bà Công E cùng tự nguyện giao kết hợp đồng mua bán dầu với ông T, việc đánh bắt thủy sản là nghề nghiệp và nguồn thu nhập chính của gia đình. Do đó, xét yêu cầu của ông T yêu cầu ông T và bà Công E có nghĩa vụ trả số tiền 83.986.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các điều 430, 440 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét việc bà Công E yêu cầu được trả số tiền 83.986.000 đồng bằng hình thức trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi hết nợ không được phía nguyên đ n đồng ý và xét yêu cầu trên không phù hợp quy định pháp luật nên không được chấp nhận.
Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí DS-ST có giá ngạch (83.986.000đ x 5%): 4.199.300đ (bốn triệu một trăm chín mư i chín ngàn ba trăm đồng). Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đ n được chấp nhận nên ông T và bà Công E phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên.
QUYEÁT ÑÒNH
Áp dụng các điều 357, 430, 440, 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1/ Chaáp nhaän yeâu caàu khởi kiện cuûa ông Lưu Văn T. Buoäc ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Công E coù nghóa vuï traû cho ông Lưu Văn T soá tieàn laø 83.986.000đ (tám mư i ba triệu chín trăm tám mư i sáu ngàn đồng).
Keå töø khi aùn coù hiệu löïc pháp luật, coù ñôn yeâu caàu thi haønh aùn của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Không chấp nhận việc bà Công E yêu cầu trả số tiền 83.986.000 đồng bằng hình thức trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi hết nợ.
2/- Án phí daân söï sô thaåm coù giaù ngaïch: 4.199.300ñ (bốn triệu một trăm chín mư i chín ngàn ba trăm đồng) buộc ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Công E phải nộp.
Traû cho ông Lưu Văn T soá tieàn taïm öùng aùn phí ñaõ noäp laø 2.100.000ñ (hai triệu một trăm ngàn đồng) theo bieân lai thu tieàn soá 0007261 ngaøy 01/6/2017 cuûa Chi cuïc thi haønh aùn daân söï huyeän Ba Tri.
Trường hợp baûn aùn, quyết ñịnh ñược thi haønh theo quy ñịnh tại Điều 2 Luật Thi haønh aùn daân sự thì người ñược thi haønh aùn daân söï, người phải thi haønh aùn daân söï coù quyền thỏa thuận thi haønh aùn, quyền yeâu cầu thi haønh aùn, tự nguyện thi haønh aùn hoặc bị cưỡng chế thi haønh aùn theo quy ñònh tại caùc ñieàu 6, 7, 7a, 7b vaø 9 Luật Thi haønh aùn daân sự; thời hiệu thi haønh aùn ñược thực hiện theo quy ñịnh tại Ñiều 30 Luật thi haønh aùn daân sự.
Các đư ng sự coù quyeàn làm đ n khaùng caùo trong thời haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn, đư ng sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Ba Tri; - THADS huyện Ba Tri; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Thị Ngọc Duyên |