- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Xuân T - phạm tội giả mạo trong công tác (điều 359 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 359 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 579/2024/HS-ST Ngày: 12/12/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nở
2. Bà Phan Ngọc Huệ
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Bùi Ngọc Long - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số
907/TLST-HS ngày 04/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
6079/2024/QĐXXST-HS ngày 19/12/2024 đối với bị cáo:
Đinh Xuân T, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1993 tại tỉnh T; nơi cư trú: số 57
Đường số 5, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn:
12/12; nghề nghiệp: Nguyên Trung úy, cán bộ Đội Tổng hợp thuộc Công an
huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị tước danh hiệu Công an nhân dân theo
Quyết định số 8032/QĐ-CATP ngày 05/10/2023 của Công an Thành phố Hồ
Chí Minh; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Đinh Văn K và bà Phạm Thị T; có vợ là Nguyễn Ngọc Mai T1 và có 01
con lớn sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không. Bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi
cư trú (có măt tại phiên toà).
+ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Đinh Thị Như Quỳnh, địa chỉ: 73 đường số A, phường B, quận B, Thành
phố Hồ Chí Minh (vắng măt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Đinh Xuân T, nguyên là Trung úy, cán bộ trinh sát thuộc Đội Cảnh sát
điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ Công an huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ). Ngày 28/01/2021, Ban chỉ huy Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ phân công T thụ lý giải quyết hồ sơ vụ vi phạm hành chính “Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ” phát hiện ngày 27/01/2021 tại Nhà không số thuộc Tổ 2, Ấp A, xã B, huyện B do ông Nguyễn L làm chủ, thu giữ hàng hóa liên quan là 48 bộ máy lạnh hiệu Mitsubishi (đã qua sử dụng) không có hóa đơn chứng từ và nguồn gốc xuất xứ.
Đến ngày 17/3/2021, Ban chỉ huy Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh
tế và chức vụ tiến hành kiểm tra tiến độ giải quyết hồ sơ của đơn vị, phát hiện hồ sơ vụ việc hành chính nêu trên do T thụ lý có dấu hiệu làm giả “Lệnh xuất kho vật chứng” đối với 48 bộ máy lạnh hiệu Mitsubishi đã thu giữ mà không có báo cáo đề xuất nên đã báo cáo vụ việc đến Ban chỉ huy Công an huyện B.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Đinh Xuân T khai nhận: Quá trình thụ lý
giải quyết vụ việc vi phạm hành chính nêu trên, T có báo cáo tiến độ giải quyết cho các ông Nguyễn Văn Đ, Đội trưởng và ông Lê Cảnh T2, Phó đội trưởng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ. Ngoài ra, ông T2 có nói với T báo cáo trực tiếp tiến độ giải quyết cho ông Phạm Hoàng Th, Trưởng Công an huyện B. T đã 03 lần báo cáo trực tiếp với ông Th thì ông Th cho biết có người quen nhờ giúp đỡ cho ông Nguyễn L, nếu có giúp thì phải thực hiện đúng quy định của pháp luật. Sau đó, T có báo cáo lại với ông Lê Cảnh T2 thì ông T2 ]nói làm theo ý kiến của ông Th. Bản thân T nhận thức được 48 bộ máy lạnh này là hàng hóa không có hóa đơn, chứng từ cần phải tịch thu nhưng muốn thực hiện theo ý kiến của Lãnh đạo nên T đã nảy sinh ý định làm giả “Lệnh xuất kho vật chứng” để trả lại 48 bộ máy lạnh cho ông Nguyễn L.
Để thực hiện, ngày 08/3/2021, T đã tự ý soạn thảo “Lệnh xuất kho vật
chứng” có nội dung xuất kho vật chứng đối với 48 bộ máy lạnh đã thu giữ để trả lại cho chủ sở hữu. Sau đó, T lấy văn bản (chưa đóng dấu) có chữ ký của ông Nguyễn Văn D, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và chữ ký nháy của ông Lê Cảnh T2, Phó Đội trưởng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ rồi phô tô, sau đó dùng kéo cắt chữ ký nháy của ông T2 và chữ ký của ông D dán chữ ký nháy của ông T2 vào phần cuối nội dung, sau chữ “quy định”, dán chữ ký của ông D vào phần ký bên dưới “P.THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN CSĐT” tại “Lệnh xuất kho vật chứng” rồi phô tô thành 02 bản.
Đến ngày 09/3/2021, T mang 02 “Lệnh xuất kho vật chứng” trên đến
Đội Điều tra tổng hợp Công an huyện B, lợi dụng lúc không có người tại Phòng quản lý con dấu, T đã lấy con dấu (Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B) đóng vào 02 “Lệnh xuất kho vật chứng”, đóng dấu tên “Thượng tá Nguyễn Văn D” dưới chữ ký của ông D, đồng thời lấy sổ theo dõi việc lấy số rồi vào sổ theo dõi với nội dung “399 09/3/2021 Nguyễn L (VLB) 40 máy lạnh 102 31/01/2021
trả chủ SH T”, sau đó điền số 399 vào “Lệnh xuất kho vật chứng” và ghi ngày
09/3/2021.
Sau đó, T gọi điện thoại cho ông L hẹn đến 14 giờ ngày 09/3/2021 đến
kho vật chứng Công an huyện B để nhận lại 48 bộ máy lạnh hiệu Mitsubishi.
Đến 14 giờ cùng ngày, T đến kho vật chứng Công an huyện B găp ông Nguyễn
Thành K3 là chiến sỹ nghĩa vụ trực bảo vệ kho thì ông K3 cho biết ông Trần
Ngọc N4 là thủ kho đang đi học, ông Nguyễn Thanh H là cán bộ được phân
công hỗ trợ ông N4 đang đi công tác nên không có cán bộ xuất kho vật chứng, T
có đưa “Lệnh xuất kho vật chứng” cho K3 xem và nói xuất kho vật chứng để trả
cho chủ sở hữu thì ông K3 có gọi điện thoại cho ông N4 thông báo sự việc, đồng
thời T cũng gọi điện thoại cho ông N4 thông báo có Lệnh xuất kho đối với 48 bộ
máy lạnh và chụp hình “Lệnh xuất kho vật chứng” gửi cho ông N4 xem. Sau khi
xem “Lệnh xuất kho vật chứng” do T gửi, ông N4 đã đồng ý cho xuất kho 48 bộ
máy lạnh trên và nhờ ông K3 giám sát việc T nhận 48 bộ máy lạnh. Sau khi
nhận 48 bộ máy lạnh, T đã trả lại cho ông L và đưa cho ông K3 số tiền
1.000.000 đồng và nói cho K3200.000 đồng, nhờ K3 chuyển cho ông N4
500.000 đồng và ông Hải 300.000 đồng để uống nước.
Sau khi phát hiện sai phạm của Đinh Xuân T, Công an huyện B đã
chuyển vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để kiểm tra, xác
minh. Ngày 18/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết
định phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Ngày 07/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra
Quyết định trưng cầu giám định tài liệu, con dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an huyện B, chữ ký của các ông Nguyễn Văn D, Lê Cảnh T2 trên “Lệnh
xuất kho vật chứng” do T làm giả.
Bản Kết luận giám định số 3301/KL-KTHS ngày 27/7/2022 của Phòng
Kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
1. Chữ ký mang tên Thượng tá Nguyễn Văn D và chữ ký nháy tại cuối
nội dung văn bản trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 (Lệnh xuất kho vật
chứng số 399, đứng tên đơn vị phát hành Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an
huyện B, đề ngày 09/3/2021) là chữ ký sao chụp.
2. Không tiến hành giám định so sánh đối với chữ ký sao chụp (chữ ký
mang tên Thượng tá Nguyễn Văn D và chữ ký nháy tại cuối nội dung văn bản)
trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1.
3. Hình dấu tròn có nội dung “CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA *
CÔNG AN HUYỆN B – T.P HỒ CHÍ MINH” trên tài liệu cần giám định ký hiệu
A1 so với hình dấu tròn có cùng nội dung của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công
an huyện B trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một con dấu đóng ra.
4. Chữ ký, chữ viết họ tên Đinh Xuân T và chữ viết có nội dung “Đây là
lệnh xuất kho vật chứng mà tôi (T) đã làm giả./.” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết của Đinh Xuân T trên tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký, viết ra.
5. Chữ ký mang tên Đinh Xuân T dưới mục “Người nhận (ký ghi rõ họ
tên)” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 (Phiếu xuất kho vật chứng số 126/21/PXK, đứng tên người nhận Đinh Xuân T, đề ngày 09/3/2021) so với chữ ký của Đinh Xuân T trên tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký ra.
6. Chữ viết có nội dung “399” và ‘09/3” tại dòng thứ 7 (bảy) từ trên
xuống trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ viết của Đinh Xuân T trên tài liệu mẫu so sánh do cùng một người viết ra.
7. Chữ viết có nội dung “399 09/3/2021 Nguyễn L (VLB) 40 máy lạnh
102 31/01 2021 Trả chủ sở hữu T” tại trang số 37 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A3 (sổ “Xuất vật chứng” của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B) so với chữ viết của Đinh Xuân T trên tài liệu mẫu so sánh do cùng một người viết ra.
Bản Kết luận định giá tài sản số 604/KL-HĐĐGTS ngày 19/3/2021 của
Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự - UBND huyện B kết luận 48 bộ máy lạnh hiệu Mitsubishi đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 27/01/2021 trị giá 38.400.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành thu giữ 01
Lệnh nhập kho vật chứng số 399 ngày 09/3/2021. Ngày 25/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B có phiếu chuyển nguồn tin về tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh (Phòng PC01) giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, bị can
Đinh Xuân T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên, do muốn làm theo ý của ông Phạm Hoàng Th, Trưởng Công an huyện B là trả cho ông Nguyễn L 48 bộ máy lạnh và không muốn bị gây khó dễ trong quá trình công tác nên bị can đã tự ý thực hiện việc làm giả “Lệnh xuất kho vật chứng” và trả 48 bộ máy lạnh hiệu Mitsubishi cho ông Nguyễn L như nêu trên, ngoài ra không có mục đích nào khác, T cũng không nhận được lợi ích vật chất gì từ ông Nguyễn L. Đối với số tiền 1.000.000 đồng là tiền cá nhân của T gửi cho K3 để bồi dưỡng cho anh em uống nước không có mục đích gì khác.
Đối với “Lệnh xuất kho vật chứng” giả, T khai nhận đã phô tô thành 02
bản rồi mới mang đi đóng dấu, lấy số. T giao 01 “Lệnh xuất kho vật chứng” giả cho ông Hứa Thành K3 để giao lại cho ông Trần Ngọc N4 (cán bộ thủ kho), 01 “Lệnh xuất kho vật chứng” giả T cho vào hồ sơ vụ việc vi phạm hành chính “Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ” đang thụ lý. Quá trình kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B chỉ thu giữ được 01 “Lệnh xuất kho vật chứng” do T làm giả. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B cung cấp “Lệnh xuất kho vật chứng” còn lại. Ngày 04/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B có Công
văn số 2735/CQĐT-ĐCSHS trả lời như sau: 01 “Lệnh xuất kho vật chứng” còn
lại hiện không rõ ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B không
bổ sung được.
Đối với những người có liên quan, quá trình điều tra đã xác định được
như sau:
Đối với ông Nguyễn L khai nhận số 48 bộ máy lạnh hiệu Mitsubishi đã
qua sử dụng trên mua của ông Lương Khắc T5 với mục đích để bán lại thu lợi
nhuận. Việc T trả lại cho ông số máy lạnh trên, ông L không tác động ai và cũng
không đưa tiền cho T để được nhận lại. Hiện nay ông L đã bán hết số máy lạnh
trên cho người khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi được.
Đối với ông Lê Cảnh T2, Phó Đội trưởng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm
về kinh tế và chức vụ và ông Phạm Hoàng Th, Trưởng Công an huyện B: Kết
quả làm việc và ghi lời khai ông T2 và ông Th đều khẳng định không tác động,
chỉ đạo và cũng không biết vụ việc T trả lại 48 bộ máy lạnh cho ông Nguyễn L.
Ngoài lời khai của T không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan Cảnh sát
điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh không có căn cứ xử lý.
Đối với ông Nguyễn Văn D, Phó thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an huyện B không chỉ đạo T trả lại tang vật, không ký “Lệnh xuất kho vật
chứng” và cũng không được T báo cáo vụ việc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an Thành phố Hồ Chí Minh không có căn cứ xử lý.
Đối với các cán bộ thuộc Đội Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp
Công an huyện B gồm các ông Trần Ngọc N4 (cán bộ quản lý kho vật chứng),
ông Nguyễn Thanh H (cán bộ hỗ trợ ông N4) và ông Hứa Thành K3(chiến sỹ
nghĩa vụ trực bảo vệ kho) hoàn toàn không biết T làm giả “Lệnh xuất kho vật
chứng” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh không
có căn cứ xử lý.
Đối với bà Đinh Thị Như Q là cán bộ Đội điều tra tổng hợp Công an
huyện B là người được giao nhiệm vụ quản lý con dấu, theo dõi việc đóng dấu,
lấy số của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B hoàn toàn không biết
việc T tự lý lấy con dấu đóng và lấy số vào “Lệnh xuất kho vật chứng” giả nên
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh không có căn cứ xử
lý.
Vật chứng thu giữ: 01 “Lệnh xuất kho vật chứng” số 399 ngày
09/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B.
Về dân sự: Đinh Xuân T đã nộp 38.400.000 đồng khắc phục hậu quả,
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nhập kho bạc Nhà nước.
Tại bản Cáo trạng số 533/CT-VKS-P2 ngày 07/8/2024, Viện kiểm sát
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đinh Xuân T về tội “Giả
mạo trong công tác” theo các điểm b, c khoản 1 Điều 359 Bộ luật Hình sự
năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đinh Xuân T đã thừa nhận các hành vi
phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai.
Sau khi kiểm tra toàn bộ lời khai của bị cáo, cùng với các tài liệu chứng
cứ khác được đưa ra xem xét tại phiên tòa; đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đinh Xuân T về tội “Giả mạo trong công tác”. Đề nghị hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 359; điểm b, s khoản điều 51 Bộ luật
Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đinh Xuân T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Trong phần nói lời sau cùng, bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, mong Hội đồng
xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình, hòa nhập xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công
an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đinh Xuân T không có ý kiến hoăc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đinh Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành
vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu trên. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định: Đinh Xuân T, nguyên là Trung úy, cán bộ trinh sát thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ Công an huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh được phân công thụ lý giải quyết hồ sơ vụ vi phạm hành chính “Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ” phát hiện ngày 27/01/2021 tại Nhà không số thuộc tổ 2, Ấp A, xã B, huyện B do ông Nguyễn L làm chủ. Quá trình giải quyết vụ việc vi phạm hành chính nêu trên, T đã sử dụng phương thức, thủ đoạn soạn thảo “Lệnh xuất kho vật chứng” rồi cắt, dán chữ ký nháy của ông Lê Cảnh T2, Phó đội trưởng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ, chữ ký của ông Nguyễn Văn D, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tự đóng dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra, tự ghi số, ngày để làm giả “Lệnh xuất kho vật chứng”
sau đó đến kho vật chứng Công an huyện B xuất kho 48 bộ máy lạnh hiệu
Mitsubishi đã qua sử dụng để trả cho ông Nguyễn L.
Với các hành vi như trên, xét đã có cơ sở để tuyên bố bị cáo Đinh Xuân T
phạm vào tội “Giả mạo trong công tác” theo quy định tại các điểm b, c khoản 1
Điều 359 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng
đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ,
đúng người, đúng tội.
Hành vi của Đinh Xuân T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm
phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước, và gây ảnh hưởng xấu
đến uy tín, niềm tin của người dân vào các cơ quan nhà nước nên cần phải được
xử lý nghiêm minh trước pháp luật, nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và để
răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Đinh Xuân T tự nguyện khắc phục hậu
quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại các điểm b, s khoản 1
Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về xử lý vật chứng, căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015:
Đối với 01 Lệnh xuất kho vật chứng số 399 ngày 09/3/2021 của Cơ quan
cảnh sát điều tra công an huyện B là vật chứng của vụ án nên tiếp tục lưu hồ sơ
vụ án.
Đối với số tiền 38.400.000 đồng bị cáo Đinh Xuân T tự nguyện nộp lại để
khắc phục hậu quả nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các điểm b, c khoản 1 Điều 359; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ
luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đinh Xuân T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Giả
mạo trong công tác”; Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 Lệnh xuất kho vật chứng số 399 ngày
09/3/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện B.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 38.400.000 (Ba mươi tám triệu
bốn trăm ngàn) đồng theo Giấy nộp tiền vào tài khoản của cơ quan điều tra ngày
21/12/2023 của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng măt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoăc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; (1) - TAND cấp cao tại TP.HCM (1) - VKSND TP.HCM; (3) - Cục THADS TP.HCM; (1) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - Trại giam; (1) - Bị cáo; (1) - Đương sự; (1) - THAHS TP.HCM; (1) - PV06-CA TP. HCM; (1) -UBND xã nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (21) (5) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên |