- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoài A cùng đồng phạm phạm tội Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? I. Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Nguyễn Hiếu Ng là người đại diện hợp pháp của bị hại; Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2023/HS-ST ngày 09/03/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An như sau:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 578/2023/HS-PT Ngày 22/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NG VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Ý.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Minh
Ông Vương Minh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 268/2023/TLPT-HS ngày 20 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Hoài A cùng đồng phạm, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy B và đại diện hợp pháp bị hại, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2023/HS-ST ngày 09 tháng 03 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Long An.
- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:
1. Nguyễn Hoài A, tên gọi khác: T Anh; sinh năm 1984; tại tỉnh Long An. Nơi cư trú: Ấp C, xã Long Hựu Đ, huyện Cần Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1960; có vợ tên Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1978, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh ngày 08/01/2015 (đã chết ngày 16/4/2015); tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 01/8/2021, bị Công an huyện Cần Đ, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành Ch 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, tịch thu bổ sung 1.500.000 đồng theo Quyết định số 377/QĐ-XPHC, đã chấp hành xong ngày 14/9/2021; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/4/2021 đến ngày 27/4/2021 chuyển tạm giam; có mặt.
2. Nguyễn Huy B, tên gọi khác: B B, sinh năm 1986; tại tỉnh Long An. Nơi đăng ký thường trú: Ấp Rạch B, xã Tân L, huyện Cần Đ, tỉnh Long An; chỗ ở: Ấp Nhà D, xã Tân L, huyện Cần Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1960; có vợ tên là Trần Thị Ngọc Tr, sinh năm 1999, có 02 con lớn sinh năm 2008 và nhỏ sinh năm 2018; tiền án: ngày 11/10/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Cần Đ, tỉnh Long An tuyên phạt 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 25/2019/HS-ST, chưa thi hành bản án; tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 02/4/2013, bị Công an huyện Cần Đ, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành Ch 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc theo Quyết định số 114/QĐ-XPHC, đã chấp hành xong cùng ngày; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 19/4/2021 đến ngày 28/4/2021 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.
3. Trần Minh N, sinh ngày 23 tháng 9 năm 2002; tại tỉnh Long An. Nơi cư trú: Ấp Long M, xã Mỹ L, huyện Cần Đ, tỉnh Long An; trình độ học vấn: 08/12; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn N, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; có vợ tên Lê Ngọc T, sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 19/4/2021, bị Công an huyện Cần Đ, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành Ch 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 107/QĐ-XPHC, đã chấp hành xong ngày 17/5/2021; bị cáo đang tại ngoại; có đơn xin xử vắng mặt.
4. Lê Thanh P, sinh ngày 31 tháng 01 năm 1999; tại tỉnh Long An. Nơi cư trú: Ấp 7, xã Phước Đ, huyện Cần Đ, tỉnh Long An; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn G, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1974; có vợ tên Lê Thị Minh C và có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 19/4/2021, bị Công an huyện Cần Đ, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành Ch 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 104/QĐ-XPHC, đã chấp hành xong ngày 06/5/2021; bị cáo đang tại ngoại; có đơn xin xử vắng mặt.
5. Đỗ Quang K, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1998; tại tỉnh Long An. Nơi cư trú: Ấp Long H, xã Long Hựu T, huyện Cần Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Văn H, sinh năm 1968 và bà Cổ Thị V, sinh năm 1968; bản thân chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 19/4/2021, bị Công an huyện Cần Đ, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành Ch 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 106/QĐ-XPHC, đã chấp hành xong ngày 06/5/2021; bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác; có đơn xin xử vắng mặt.
6. Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 02 tháng 4 năm 2002; tại tỉnh Long An. Nơi cư trú: Ấp Long M, xã Mỹ L, huyện Cần Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1977 và bà Lê Thị Hồng N, sinh năm 1980; bản thân chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 15/12/2020, bị Công an huyện Cần Đ, tỉnh Long An phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 354/QĐ-XPHC;
Nhân thân: Ngày 29/11/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Cần Đ, tỉnh Long An áp dụng biện pháp xử lý hành Ch đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng theo Quyết định số 54/ QĐ-TA, bị cáo đang thi hành cai nghiện; có đơn xin xử vắng mặt.
7. Ngô Hoàng V, sinh năm 1980; tại tỉnh Long An. Nơi cư trú: Ấp 6, xã Phước T, huyện Cần Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 01/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Ngô Hoàng Ph (đã chết) và bà Ngô Thị L, sinh năm 1959; tiền án: Ngày 29/9/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Cần Đ, tỉnh Long An tuyên phạt 03 năm tù “Trộm cắp tài sản” và chịu 50.000 đồng án phí theo Bản án hình sự sơ thẩm số 20/HSST, ngày 28/11/2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm Bản án hình sự sơ thẩm số 20/HSST tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2009 theo Bản án hình sự phúc thẩm số 139/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2008, nhưng đến nay chưa đóng án phí 50.000 đồng; tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 05/11/1996, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Long An ra Quyết định số 1931 áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, chấp hành xong năm 1998.
- Ngày 03/4/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Cần Đ, tỉnh Long An tuyên phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 08/HSST.
- Ngày 23/11/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Cần Đ, tỉnh Long An tuyên phạt 12 tháng tù “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 52/HSST, chấp hành xong ngày 27/6/2006.
- Ngày 14/4/2011, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Long An ra Quyết định số 1171/QĐ-UB áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng, chấp hành xong 24/4/2013.
- Ngày 19/4/2021, bị Công an huyện Cần Đ, tỉnh Long An ra Quyết định số 105/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành Ch 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong ngày 06/5/2021.
- Ngày 25/5/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Cần Đ xử phạt 9 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 20/2022/HS-ST, đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 26/10/2022.
- Ngày 15/11/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Cần G xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo Bản án số 90/2022 ngày 15/11/2022, chưa thi hành hình phạt; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/10/2022; có mặt.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Hoài A, B: Ông Đỗ Hải B là Luât sư của Văn phòng luật sư Quốc Anh, thuộc đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo V, N: Ông Đoàn Trọng Ng là Luật sư của Văn phòng luật sư Đoàn Trọng Ng, thuộc đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo P: Ông Hồ Hoài Nh là Luật sư của Công ty luật TNHH MTV Trường M, thuộc đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo K, T: Ông Nguyễn Thanh Bảo D là Luật sư thuộc đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Bị hại có kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1976 (chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Hiếu Ng, sinh năm 1997; cư trú tại: Ấp Cầu Ng, xã Long Hựu Đ, huyện Cần Đ, tỉnh Long An; có mặt.
- Ngoài ra, trong vụ án này còn có những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo và liên quan đến kháng cáo, nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoài A có mối quan hệ bạn bè Nguyễn Huy B. Nguyễn Huy B có quen biết và chơi chung với Lê Thanh P, Trần Minh N, Đỗ Quang K, Nguyễn Hoàng Minh T (T Rai đơ, V), Ngô Hoàng V (Quí).
Ngày 16/4/2021, Nguyễn Hoài A chơi đánh bài ăn tiền với anh Nguyễn Văn Ch thì xảy ra mâu thuẫn nên Hoài A bị Ch dùng tay đánh. Khoảng 22 giờ ngày 17/4/2021, sau khi uống bia tại nhà, Hoài A nhớ lại việc bị Ch đánh. Lúc này Hoài A nảy sinh ý định trả thù nên gọi điện thoại cho Nguyễn Huy B và nói với B là Hoài A bị người khác ăn hiếp, nhờ xuống phụ thì B hiểu là Hoài A nhờ B đi đánh nhau giúp Hoài A nên B đồng ý. Lúc này, B đang uống bia và sử dụng chất ma túy tổng hợp tại nơi ở của B thuộc ấp Nhà D, xã Tân L, huyện Cần Đ, tỉnh Long An (B đang ở nhờ tại căn chòi của Châu Hoàng H), cùng với Lê Thanh P, Trần Minh N, Đỗ Quang K, Nguyễn Hoàng Minh T và Ngô Hoàng V nên khi nghe điện thoại xong, B rủ P, N, K, V và T đi đánh nhau. B lấy 01 cây mã tấu dài 69cm, ngang 03cm, bằng kim loại màu đen, cán quấn băng keo đen, mũi nhọn (mã tấu tự chế) mà B đã mượn trước đó của Nguyễn Hoàng Anh Tú bỏ vào trong giỏ là loại dùng đựng cây vợt quần vợt rồi để giỏ gần chỗ ngồi nhậu. N mở giỏ ra và thấy chỉ có 01 cây mã tấu, N thấy 03 cây dao ở gần đó có đặc điểm 01 con dao dài 32 cm, lưỡi dài 20cm, rộng 4,5cm, cán nhựa màu đen, mũi nhọn; 01 dao Thái Lan dài 21 cm, lưỡi dài 11cm, rộng 2cm, mũi nhọn, cán nhựa màu vàng; 01 con dao dài 19,5cm, lưỡi dao màu trắng dài 08 cm, rộng 02 cm, mũi nhọn, cán nhựa màu vàng và lấy 01 cây xăm gạo có đặc điểm dài khoảng 30cm, bằng kim loại màu trắng, rỗng ruột, mũi nhọn rồi hỏi B có bỏ vô được không thì được B trả lời “được” nên N bỏ 03 con dao và 01 cây xăm gạo vào giỏ rồi đưa giỏ chứa hung khí cho P cầm. B điều khiển xe mô tô biển số 62L1-777.00 chở P, K điều khiển xe mô tô biển số 62L1-041.10 chở N, T điều khiển xe biển số 53V4-2904 chở V đi đến nhà Hoài A. Khi đến nhà Hoài A, nghe tiếng B gọi, Hoài A đi ra và hỏi B có đem hung khí không thì B chỉ về phía N đang cầm giỏ, N đưa giỏ lên cho Hoài A thấy. Lúc này, Hoài A kêu B chở xuống nhà ông Nguyễn Văn Ch thì B nói ông Ch là bà con bên vợ của B nên B không làm thì Hoài A nói “Chút nữa tao đâm thằng kia, mấy anh em ở ngoài” rồi lên xe ngồi giữa B và P. B điều khiển xe chở Hoài A và P đi về hướng nhà của ông Ch. K chở N, T chở V cùng đi theo.
Trên đường đi, Hoài A kêu B đưa hung khí thì B ngoắc tay ra hiệu, thấy vậy, K điều khiển xe chở N chạy lên song song bên trái xe B. B kêu đưa hung khí cho Hoài A. N mở giỏ lấy cây dao cán đen dài 32cm ra thì Hoài A không chịu. Hoài A nói “Đổi cây khác”. B kêu lấy cây xăm gạo nên N bỏ cây dao vào giỏ và lấy cây xăm gạo ra đưa qua phía Hoài A nhưng Hoài A không với tới. Lúc này P ngồi sau cùng xe nên P đưa tay nhận cây xăm gạo từ phía N rồi chuyển đưa cho Hoài A, Hoài A cầm cây xăm gạo trên tay.
Khoảng 23 giờ 45 phút, ngày 17/4/2021, cả nhóm đến trước nhà của Ch. Hoài A cầm cây xăm gạo đi một mình vào nhà Ch; còn B, P, N, K, V, T ở ngoài đường, phía trước cách nhà Ch khoảng 10 mét chờ. V đi qua phía bên kia đường tìm và nhặt được 01 cây kim loại màu trắng, rỗng ruột, dài khoảng 01 mét (loại cây chân dù) cầm trên tay để chuẩn bị đánh nhau.
Hoài A đi vào phần chữ “L” của nhà Ch, gặp con gái anh Ch là Nguyễn Hoàng Phương Trúc, sinh năm 2011 thì hỏi Trúc “Ba có nhà không, cho chú gặp nói chuyện”. Trúc đi gọi Ch. Hoài A để cây xăm gạo trên lan can bên trái phía trước, cách cửa của gian chữ “L” 1,28 m rồi vào trong nhà nói chuyện với Ch, hai bên cự cãi rồi đánh nhau bằng tay. Ông Ch đánh tới thì Hoài A lùi ra đến chỗ để cây xăm gạo, dùng tay phải gạt đỡ tay ông Ch đang đánh mình, dùng tay trái lấy cây xâm gạo, cầm với tư thế bàn tay trái cầm vào phần cán, mũi hướng xuống ngón tay út, xoay người hướng ngược chiều kim đồng hồ, quay lưng về phía ông Ch, đâm cây xăm gạo từ trước ra sau lưng, hướng mũi xăm gạo trúng vào bụng Ch 01 nhát gây thủng bụng. Hoài A tiếp tục xoay người ngược lại (cùng chiều kim đồng hồ) đối diện với ông Ch, Hoài A giữ tư thế cầm cây xăm gạo như trên, đâm từ trái qua phải trúng vào phần ngực phải của Ch gây trầy xướt da thì Ch la lên “T Anh mày đâm tao” và lấy tay ôm bụng. Hoài A cầm cây xăm gạo bỏ đi phía chỗ B và đồng bọn đang đứng ngoài đường chờ.
Phía nhóm của B đang chờ ở ngoài, khi nghe bên trong có tiếng cự cãi, B la lên “Chém nó”, T la lên “Chém chết mẹ nó” rồi B cầm dao tự chế (mã tấu), P, N, K, T và V cầm cây chân dù cùng chạy vào khuôn viên sân nhà của Ch. Khi vào được một đoạn thì Hoài A đang cầm cây xăm gạo từ trong đi ra kêu đi về thì V dùng cây kim loại đập vào lan can một cái và cả nhóm đi ra ngoài đường nơi đang đậu xe mô tô. Trên đường đi, Hoài A đưa cây xăm gạo cho P và dặn “tìm chỗ nào giục đi” rồi lên xe của K chở tẩu thoát. B chở P lúc này đang cầm cây xăm gạo và giỏ đựng hung khí. T chở N và V cùng tẩu thoát về phía nhà Hoài A. Hoài A vào nhà nói với con gái ruột của Hoài A tên Nguyễn Hoài Như T, sinh năm 2004 là “Ba lỡ đâm người ta, chắc ba đi luôn”, xong đi ra xe B để B chở về nhà B để ngủ. K chở P cầm cây xăm gạo và giỏ đựng hung khí; T chở N, V chạy xe theo sau. Khi qua giữa cầu Kênh Nước Mặn khoảng 20m, Hoài A kêu P ném bỏ cây xăm gạo thì P ném cây xăm gạo xuống Kênh Nước Mặn để tiêu hủy hung khí. Hoài A, B, P, N, K, T, V về chỗ ở của B tại ấp Nhà D, xã Tân L, huyện Cần Đ, tỉnh Long An. Tại đây Hoài A nói cho cả nhóm biết đã đâm Ch. Lúc này, Hoài A nhìn thấy áo dính máu nên cởi ra vứt ở đống rác gần chỗ ở của B; P đem giỏ đựng hung khí bỏ ở hàng rào lưới B40, cách chỗ ở của B 14,5m. Hoài A đưa cho B 2.000.000đ để chia cho mấy anh em đi chung uống nước. B đưa P, K, N, T mỗi người 200.000đ, riêng V không nhận 200.000 đồng nên B giữ lại.
Sau khi bị Hoài A đâm, ông Nguyễn Văn Ch được gia đình đưa đến Trung tâm y tế huyện Cần Đ cấp cứu rồi chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy điều trị đến 02 giờ 30 phút ngày 18/4/2021 thì tử vong.
Ngày 18/4/2021, Hoài A và B đến Công an huyện Cần Đ đầu thú. P, K, N, T, V đến Công an huyện Cần Đ trình diện và khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi ông Nguyễn Văn Ch số 462/2021/KLGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An kết luận như sau:
1. Khám ngoài:
Ngực: bên phải có vết trầy xướt da, kích thước (1x0,5)cm.
Bụng: cách rốn 10cm về phía trên- trong vòng bụng bên phải có 01 vết thương hở, kích thước (2x1)cm, có dạng hình chữ V, bờ mép vết thương sắc gọn, thấu bụng, bụng trương căng.
2. Khám trong:
Ngực: không bầm tụ máu dưới da và cơ.
Bụng: vết thương hở thấu bụng có chiều hướng từ ngoài vào trong, từ trước ra sau, từ phải sang trái, chết về hướng đốt sống thắt lưng (L3 – L4), máu tràn ngập trong ổ bụng gồm máu đông cục và máu đen loãng. Tụ máu sau phúc mạc, đứt động mạch chân chung bên phải, động mạch mạc treo ruột non, động mạch thận phải và động mạch chủ bụng.
Kết luận:
1. Dấu hiệu Ch qua giám định:
Vùng bụng bên phải có 01 vết thương hở, kích thước (2x1)cm, có dạng hình chữ V, bờ mép vết thương sắc gọn thấu bụng.
Tụ máu sau phúc mạc, đứt động mạch chậu chung bên phải, động mạch mạc treo ruột non, động mạch thận phải và động mạch chủ bụng.
2. Nguyên nhân chết: Do bị vết thương hở thấu bụng làm đứt nhiều động mạch trong ổ bụng gây shock mất máu cấp.
Tại Kết luận giám định số 2417/C09B ngày 18 tháng 5 năm 2021 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Dấu vết màu nâu đỏ dính trên áo sơ mi là máu người. Kiểu gen của các dấu vết máu này đều trùng với kiểu gen của Nguyễn Văn Ch.
Thu giữ và chuyển Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An quản lý chờ xử lý theo quy định pháp luật các đồ vật sau: 02 mẫu màu nâu đỏ (nghi máu) thu tại hiện trường (vết 04, 06); 01 giỏ đựng vợt cầu lông màu đỏ đen, có chữ KeKa; 01 cây mã tấu (dao tự chế) bằng kim loại màu đen, dài 69cm, ngang 03cm, cán quấn băng keo đen, mũi nhọn; 01 con dao dài 32cm, lưỡi dao dài 20cm, rộng 4,5cm, mũi nhọn, cán bằng nhựa màu đen; 01 con dao thái lan dài 21cm, lưỡi dài 11cm, rộng 02cm, mũi nhọn, cán nhựa màu vàng; 01 con dao dài 19,5cm, lưỡi dao màu trắng dài 08cm, rộng 02cm, mũi nhọn, cán màu vàng quấn băng keo màu đen (Giỏ và mã tấu của Nguyễn Hoàng Anh Tú cho B mượn không thỏa thuận gì về mục đích B sử dụng. Cây xăm gạo không thu được và 03 con dao là của Châu Hoàng Hùng, N tự lấy. Hùng không yêu cầu bồi thường cây xăm gạo bị mất và không nhận lại 03 con dao); 01 chiếc áo sơ mi dài tay sọc ca rô có màu vàng đen, có hiệu LIBERITY WINGS, có dính vết màu đỏ (nghi máu) đối tượng Hoài A mặc khi gây án; 01 quần đùi màu xám đen, có 02 túi 02 bên hông, 01 túi phía sau bên phải, 02 bên hông quần có sọc màu trắng (quần của Hoài A mặc khi gây án); 01 xe mô tô hiệu Hongda (Honda) Trung Quốc, loại xe Wave màu xanh, biển kiểm soát 53V4-2904 (đã qua sử dụng, do Trần Minh N sử dụng tham gia cùng Hoài A do ông Trần Văn H đăng ký sở hữu, đã bán cho một người không rõ lai lịch và N mua lại xe này của người không rõ lai lịch và đã làm mất giấy chứng nhận).
Các vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý xong:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 62L1- 041.10 đã qua sử dụng, thuộc sở hữu của cha ruột Đỗ Quang K là ông Đỗ Văn H. Ngày 17/4/2021, K mượn xe của ông Huề để đi uống cà phê, sau đó đến nhà B rồi sử dụng tham gia cùng Hoài A. Ông H hoàn toàn không biết việc K sử dụng xe mô tô phạm tội. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh ra Quyết định xử lý vật chứng số 05 ngày 10/4/2022 trả lại xe mô tô trên cho ông H.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu xanh đen, biển kiểm soát 62L1-777.00 đã qua sử dụng và không kiểm tra tình trạng bên trong, thuộc sở hữu của chị ruột của Lê Thanh P là bà Lê Thị Ngọc M, cho P mượn để đi làm từ tháng 10/2020, bà M không biết P sử dụng xe mô tô này phạm tội. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh ra Quyết định xử lý vật chứng số 04 ngày 10/4/2022 trả lại xe mô tô trên cho bà Mai.
- 01 cây chân dù do V lấy, sử dụng rồi vứt bỏ không thu hồi được của bà Nguyễn Thị Thu L, không yêu cầu bồi thường.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn Ch là ông Nguyễn Hiếu Ng yêu cầu các bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Huy B, Lê Thanh P, Trần Minh N, Đỗ Quang K, Nguyễn Hoàng Minh T và Ngô Hoàng V bồi thường chi phí cấp cứu nạn nhân, đám tang, mai táng, cấp dưỡng nuôi 02 con nhỏ của ông Ch và tổn thất tinh thần với tổng số tiền 1.888.158.275 đồng và hàng tháng bồi thường 3.000.000 đồng tiền cấp dưỡng cho ông Nguyễn Văn Liêm là ba ruột của nạn nhân Nguyễn Văn Ch.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2023/HS-ST ngày 09/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã quyết định:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Huy B, Lê Thanh P, Trần Minh N, Đỗ Quang K, Nguyễn Hoàng Minh T, Ngô Hoàng V phạm tội “Giết người”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài A 18 (Mười tám) năm tù, thời gian phạt tù tính từ ngày 18/4/2021.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy B 12 (Mười hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2021.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58; khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh P 03 (Ba) năm tù, thời gian tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Trần Minh N 04 (Bốn) năm tù, thời gian tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Đỗ Quang K 03 (Ba) năm tù, thời gian tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Minh T 03 (Ba) năm tù, thời gian tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Áp dụng điểm n, p khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Ngô Hoàng V 12 (Mười hai) năm tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 90/2022 ngày 15 tháng 11 năm 2022 Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xử phạt bị cáo 01 năm 6 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Buộc bị cáo Ngô Hoàng V chấp hành chung cho 2 bản án là 13 (Mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 585, Điều 591, 593 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Buộc các bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Huy B, Lê Thanh P, Trần Minh N, Đỗ Quang K, Nguyễn Hoàng Minh T, Ngô Hoàng V liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Văn Liêm, bà Kiều Thị Nga, Ông Nguyễn Văn Ch, bà Phạm Thị S, anh Nguyễn Hiếu Ng, Nguyễn Hoàng Phương Tr, Nguyễn Hiếu Th số tiền 103.600.000 (Một trăm lẻ ba triệu sáu trăm nghìn) đồng chi phí mai táng cho ông Nguyễn Văn Ch là và 149.000.000 (Một trăm bốn mươi chín triệu) đồng để bù đắp tổn thất tinh thần.
- Buộc các bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Huy B, Lê Thanh P, Trần Minh N, Đỗ Quang K, Nguyễn Hoàng Minh T, Ngô Hoàng V liên đới chịu trách nhiệm cấp dưỡng một lần cho các con chưa thành niên của ông Nguyễn Văn Ch gồm Nguyễn Hoàng Phương Tr số tiền 392.480.000 (Ba trăm chín mươi hai triệu bốn trăm tám mươi nghìn) đồng và Nguyễn Hiếu Th số tiền là 717.440.000 (Bảy trăm mười bảy triệu bốn trăm bốn mươi nghìn) đồng.
- Buộc các bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Huy B, Lê Thanh P, Trần Minh N, Đỗ Quang K, Nguyễn Hoàng Minh T, Ngô Hoàng V cấp dưỡng hàng tháng cho ông Nguyễn Văn L và bà Kiều Thị N mỗi người mỗi tháng là 4.160.000 (Bốn triệu một trăm sáu mươi nghìn) đồng, thời gian cấp dưỡng từ ngày 18/4/2021 cho đến khi chết.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền Ng vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/3/2023 ông Nguyễn Hữu Ng đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với các bị cáo và phần trách nhiệm dân sự từng bị cáo; ngày 21/3/2023 bị cáo Nguyễn Huy B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, bị cáo B tự nguyện rút đơn kháng cáo.
Tại phần tranh tụng đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh có quan điểm như sau: Tại phiên toà bị cáo B tự nguyện rút toàn bộ đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo B.
Đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với các bị cáo thì thấy bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội giết người là đúng tội, bị cáo Hoài A là người chủ mưu cầm đầu, trực tiếp vào nhà bị hại, đâm chết bị hại, thể hiện tính côn đồ xem thường tính mạng của người khác và xử phạt 18 năm là nhẹ, đề nghị tăng 2 năm tù; bị cáo Ng và V không trực tiếp tham gia đánh và gây tử vong cho bị hại, bị xử phạt mỗi bị cáo 12 năm tù là nghiêm khắc; còn lại các bị cáo N, P, K, T giúp sức tinh thần, chuẫn bị hung khí, dùng xe mô tô chở nhau đi và về sau khi thực hiện tội phạm, nên đề nghị tăng mỗi bị cáo từ 2 đến 3 năm tù; còn về trách nhiêm dân sự đã xét xử phù hợp. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại, sửa một phần bản án về hình phạt tù đối với các bị cáo.
Luật sư B bào chữa cho bị cáo Hoài A, B: Khi bị cáo Hoài A đến nhà bị hại để cây xăm gạo ở bên ngoài là thể hiện bị cáo Hoài A không muốn dùng hung khí, nhưng khi bị hại đánh nên bị cáo Hoài A mới lấy cây xăm gạo đâm chết bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại cho rằng các bị cáo phạm tội nhiều lần là chưa phù hợp. Tại phiên toà, bị cáo B rút đơn kháng cáo, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hoài A 18 năm tù và bị cáo B 12 năm tù là quá nghiêm khắc, nên đề nghị Toà cấp phúc thẩm giữ y mức hình phạt cho hai bị cáo.
Luật sư Ng bào chữa cho bị cáo V, N: Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo phạm tội giết người là đúng tội và đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình đầy đủ, do bị cáo V có nhân thân rất xấu xử phạt bị cáo V 12 năm tù, bị cáo N không ngăn cản nên bị xử phạt 4 năm tù là phù hợp. Nay đại diện của bị hại kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với các bị cáo nhưng không cung cấp chứng cứ để tăng hình phạt đối với các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự đại diện bị hại yêu cầu áp dụng Nghị định số 24/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2023 để tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần là không phù hợp, vì tại thời điểm xét xử sơ thẩm nghị định trên chưa có hiệu lực.
Luật sư Nhân bào chữa cho bị cáo P: Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo P 3 năm tù là phù hợp với hành vi của bị cáo, việc tăng hình phạt đối với bị cáo là không cần thiết. Đại diện bị hại kháng cáo phần trách nhiệm dân sự là không phù hợp, đề nghị bác đơn kháng cáo của đại diện bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư Duy bào chữa cho bị cáo K, T: Đại diện bị hại kháng cáo phần trách nhiệm dân sự đề nghị căn cứ những quy định của pháp luật để giải quyết; về phần trách nhiệm hình sự bị cáo Hoài A và bị hại Ch mâu thuẫn nhau, còn các bị cáo K, T do cả nể bị cáo B nên đi theo, các bị cáo không thực hiện tội phạm, không can ngăn, nên bản án sơ thẩm xử phạt mỗi bị cáo 3 năm tù là phù hợp với vai trò đã phân hoá cho từng bị cáo; đề nghị giữ nguyên mức hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo phạm tội giết người là đúng tội, nhưng mức án xử các bị cáo chưa nghiêm, vì hậu quả các bị cáo gây ra cho gia đình rất lớn. Sau khi xét xử, các bị cáo chưa tạm giam không thăm hỏi, bồi thường cho gia đình nên các bị cáo không ăn năn hối cải; bị cáo Hoài A dùng cây xăm gạo đâm 2 nhát vào vùng trọng yếu của bị hại, nên bị cáo phạm tội nhiều lần; bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Hoài A 18 năm tù là nhẹ, không tương xứng. Bị cáo B kêu gọi nhiều bị cáo khác, chuẩn bị hung khí để bị cáo Hoài A đâm chết bị hại; bị cáo B chỉ bồi thường 10 triệu đồng là rất thấp nên chỉ được hưởng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, các bị cáo không thăm hỏi, không bồi thường nên không ăn năn, đề nghị tăng hình phạt đối với các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự đề nghị áp dụng Nghị định 24/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2023 để tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần; các bị cáo liên đới bồi nhưng phải xác định theo lỗi và bồi thường theo phần, bị cáo Hoài A 50%, bị cáo B 20% và các bị cáo còn lại 30%; án phí phải tính cho từng bị cáo để đảm bảo thi hành án. Đề nghị chấp nhận kháng cáo sửa bản án sơ thẩm như trình bày trên.
Bị cáo Hoài A, B, V sau khi nghe ý kiến của đại diện bị hại về phần trách nhiệm dân sự và thống nhất bị cáo Hoài A bồi thường 50%, bị cáo B bồi thường 20% và các bị cáo còn lại bồi thường 30%; còn về cấp dưỡng hàng tháng nên giữ nguyên là phù hợp nên ghi nhận.
Không ai tham gia tranh tụng thêm, bị cáo Hoài A, B và V có lời nói sau cùng, xin lỗi gia đình bị hại tha thứ và xin Hội đồng xét xử xem xét, giữ nguyên mức án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy B và ông nguyễn Hữu Ng đại diện hợp pháp của bị hại đúng luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Theo tài liệu Cơ quan điều tra thu thập, cũng như lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà sơ thẩm; có đủ căn cứ xác định: Chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ từ trước nhưng sau khi uống rượu bia, bị cáo Nguyễn Hoài A gọi Nguyễn Huy B mang theo hung khí để trả thù giúp Hoài A; bị cáo Nguyễn Huy B đồng ý và gọi thêm Trần Minh N, Lê Thanh P, Đỗ Quang K, Nguyễn Hoàng Minh T và Ngô Hoàng V cùng đi; dù không quen biết bị cáo Hoài A và bị hại Nguyễn Văn Ch nhưng B, N, P, K, T, V đồng ý giúp bị cáo Hoài A đánh trả thù; khi đi bị cáo B, N mang theo hung khí gồm: 1 mã tấu, 3 con dao, 1 cây xăm gạo, bị cáo B cùng đồng bọn dùng xe môtô chở bị cáo Hoài A đến nhà bị hại Ch; trên đường đi bị cáo B bảo bị cáo N lấy cây xăm gạo đưa cho bị cáo Hoài A và bị cáo Hoài A đã dùng cây xăm gạo đâm 2 nhát trúng bụng và ngực phải của bị hại. Sau khi đâm bị hại, bị cáo Hoài A được đồng bọn chở về nhà của bị cáo B, tại đây bị cáo Hoài A kể lại việc đâm bị hại cho bị cáo B, N, P, K, T, V cùng nghe và đồng phạm mang hung khí đi cất dấu, tiêu huỷ. Do vết thương hở thấu bụng, làm đứt nhiều động mạch trong ổ bụng, gây shock mất máu cấp dẫn đến bị hại Ch tử vong. Do đó, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Hoài A, B, N, P, K, T, V phạm tội: “Giết người” có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo V đã tái phạm nguy hiểm, do chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” quy định tại điểm p khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
. Tại phiên toà bị cáo B tự nguyện rút toàn bộ đơn kháng cáo, nên căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo B.
. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Hiếu Ng là người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị tăng hình phạt tù đối với các bị cáo: Bị cáo Hoài A và bị hại Ch trước đó có mâu thuẫn trong việc đánh bài, đã giải quyết chấm dứt nhưng bị cáo chủ động kêu gọi đồng phạm chuẩn bị hung khí, xe mô tô chở đến nhà bị hại; bị cáo trực tiếp vào nhà tìm bị hại, dùng cây xăm gạo là hung khí rất nguy hiểm, đâm 2 nhát vào vùng bụng, ngực là vùng nguy hiểm dẫn đến bị hại tử vong. Hành vi của bị cáo Hoài A là hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, ý thức thực hiện tội phạm từ trước, khi phạm tội rất quyết liệt tự vào nơi ở của bị hại đâm chết bị hại, nên luật sư bào chữa cho bị cáo Hoài A cho rằng bị cáo không có ý định dùng cây xăm gạo đâm bị hại là không có cơ sở. Hành vi của bị cáo xem thường tính mạng của người khác; dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng xử phạt bị cáo Hoài A 18 năm tù là nhẹ so với hành vi và hậu quả bị cáo gây ra. Bị cáo B tham gia vụ án với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực, cung cấp hung khí, giúp sức về tinh thần, dùng phương tiện chở bị cáo Hoài A đi và về sau khi thực hiện tội phạm; bị cáo V tham gia vụ án cũng chuẩn bị một thanh sắt làm hung khí, phạm tội với hai tình tiết định khung theo điểm n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; do bị cáo B và V không trực tiếp thực hiện hành vi gây hậu quả chết người, bản án sơ thẩm xử phạt mỗi bị cáo B, V mức án 12 năm tù là phù hợp nên không có cơ sở để tăng hình phạt tù đối với bị cáo B, V. Bị cáo N chuẩn bị nhiều hung khí nguy hiểm, trong đó chuẩn bị cây xăm gạo để bị cáo Hoài A dùng đâm chết bị hại, các bị cáo N, P, K, T tham gia vụ án với vai trò đồng phạm, đưa hung khí cho bị cáo Hoài A phạm tội, giúp sức tích cực về tinh thần nếu không có sự tham gia của các bị cáo thì vụ án không xảy ra, bản án sơ thẩm đã phân hoá vai trò của từng bị cáo, xử phạt bị cáo N 4 năm tù và các bị cáo P, K, T mỗi bị cáo 3 năm tù là nhẹ, so với hành vi của các bị cáo, nên đại diện bị hại đề nghị tăng hình phạt tù đối với các bị cáo là có cơ sở. Riêng bị cáo K tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2023/HS-ST ngày 17/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Cần Đ tỉnh Long An đã có hiệu lực, xử phạt bị cáo K 04 năm 9 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” cần áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 tổng hợp hình phạt của hai bản án đối với bị cáo K.
. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Hiếu Ng là người đại diện hợp pháp của bị hại về phần trách trách nhiệm dân sự, án phí:
. Ông Ng yêu cầu áp dụng Nghị định số 24/NĐ-CP của Ch phủ có hiệu lực từ ngày 01/7/2023 để tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần là không phù hợp, vì tại thời điểm xét xử sơ thẩm nghị định trên chưa được áp dụng.
. Tại phiên toà ông Ng yêu cầu các bị cáo phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã gây ra, trong đó bị cáo Hoài A đâm chết bị hại nên phải bồi thường 50%, bị cáo B bồi thường 20%, các bị cáo V, N, P, K, T bồi thường 30%, để tính phần bồi thường cho từng bị cáo; còn phần cấp dưỡng hàng tháng vẫn giữ nguyên; được bị cáo Hoài A, B, V nhất trí và phù hợp nên chấp nhận.
. Án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; án phí cấp dưỡng hàng tháng mỗi bị cáo nộp 300.000 đồng và các bị cáo phải chịu án phí có giá ngạch trên số tiền mỗi bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường.
. Từ những phân tích trên, Hội đồng phúc thẩm chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Ng là người đại diện hợp pháp của bị hại; Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, sửa một phần bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy B.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.
I. Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Nguyễn Hiếu Ng là người đại diện hợp pháp của bị hại; Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2023/HS-ST ngày 09/03/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An như sau:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Huy B, Lê Thanh P, Trần Minh N, Đỗ Quang K, Nguyễn Hoàng Minh T, Ngô Hoàng V phạm tội “Giết người”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài A 20 (hai mươi) năm tù, thời gian phạt tù tính từ ngày 18/4/2021.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy B 12 (Mười hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2021.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58; khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Minh N 06 (sáu) năm tù, thời gian tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh P 05 (năm) năm tù, thời gian tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Minh T 05 (năm) năm tù, thời gian tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58; khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đỗ Quang K 05 (năm) năm tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 23/2023 ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An, xử phạt bị cáo Đỗ Quang K 04 năm 9 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”. Buộc bị cáo Đỗ Quang K chấp hành chung cho hai bản án là 09 (chín) năm, 09 (chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/02/2023.
- Áp dụng điểm n, p khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Ngô Hoàng V 12 (Mười hai) năm tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 90/2022 ngày 15 tháng 11 năm 2022 Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xử phạt bị cáo 01 năm 6 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Buộc bị cáo Ngô Hoàng V chấp hành chung cho 2 bản án là 13 (Mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2022.
(Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Huy B, Ngô Hoàng V 45 ngày để đảm bảo thi hành án).
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 585, Điều 591, 593 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Bị cáo Nguyễn Hoài A bồi thường cho ông Nguyễn Văn L, bà Kiều Thị N, ông Nguyễn Văn Ch, bà Phạm Thị S, anh Nguyễn Hiếu Ng, Nguyễn Hoàng Phương Tr và Nguyễn Hiếu Th 51.800.000 đồng chi phí mai táng và 74.500.000 đồng bù đắp tổn thất tinh thần; bị cáo Nguyễn Hoài A chịu trách nhiệm cấp dưỡng một lần cho cháu Nguyễn Hoàng Phương Tr số tiền 196.240.000 đồng và cháu Nguyễn Hiếu Th số tiền là 358.720.000 đồng.
- Bị cáo Nguyễn Huy B bồi thường cho ông Nguyễn Văn L, bà Kiều Thị Ng, ông Nguyễn Văn Ch, bà Phạm Thị S, anh Nguyễn Hiếu Ng, Nguyễn Hoàng Phương Tr và Nguyễn Hiếu Th 20.720.000 đồng chi phí mai táng và 29.800.000 đồng bù đắp tổn thất tinh thần; bị cáo Nguyễn Huy B chịu trách nhiệm cấp dưỡng một lần cho cháu Nguyễn Hoàng Phương Tr số tiền 78.496.000 đồng và cháu Nguyễn Hiếu Th số tiền là 143.488.000 đồng.
- Mỗi bị cáo Lê Thanh P, Trần Minh N, Đỗ Quang K, Nguyễn Hoàng Minh T và Ngô Hoàng V bồi thường cho ông Nguyễn Văn Liêm, bà Kiều Thị Ng, ông Nguyễn Văn Ch, bà Phạm Thị S, anh Nguyễn Hiếu Ng, Nguyễn Hoàng Phương Tr và Nguyễn Hiếu Th 6.216.000 đồng chi phí mai táng và 8.940.000 đồng bù đắp tổn thất tinh thần; mỗi bị cáo Lê Thanh P, Trần Minh N, Đỗ Quang K, Nguyễn Hoàng Minh T và Ngô Hoàng V chịu trách nhiệm cấp dưỡng một lần cho cháu Nguyễn Hoàng Phương Tr số tiền 23.548.800 đồng và cháu Nguyễn Hiếu Th số tiền là 43.046.400 đồng.
- Buộc các bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Huy B, Lê Thanh P, Trần Minh N, Đỗ Quang K, Nguyễn Hoàng Minh T, Ngô Hoàng V cấp dưỡng hàng tháng cho ông Nguyễn Văn L và bà Kiều Thị Ng mỗi người một tháng là 4.160.000 (Bốn triệu một trăm sáu mươi nghìn) đồng, thời gian cấp dưỡng từ ngày 18/4/2021 cho đến khi chết.
Trường hợp bên có Ng vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, theo lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Tiếp tục tạm giữ số tiền gồm: 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng do ông Lê Quốc Thái nộp thay cho bị cáo Nguyễn Hoài A theo biên lai thu số 0000201 ngày 15/8/2022; 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng do chị Nguyễn Thị Như Yên nộp thay cho bị cáo Nguyễn Hoài A theo biên lai thu số 0000192 ngày 19/12/2022; 10.000.000 (Mười triệu) đồng do ông Tạ Văn H nộp thay cho bị cáo Nguyễn Huy B theo biên lai thu số 0000150 ngày 17/6/2022 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Long An, để đảm bảo thi hành phần trách nhiệm dân sự của các bị cáo.
5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Buộc các bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Huy B, Lê Thanh P, Trần Minh N, Đỗ Quang K, Nguyễn Hoàng Minh T, Ngô Hoàng V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Huy B, Lê Thanh P, Trần Minh N, Đỗ Quang K, Nguyễn Hoàng Minh T, Ngô Hoàng V phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng không có giá ngạch. Về án phí bồi thường thiệt hại có giá ngạch bị cáo Nguyễn Hoài A phải nộp 6.315.000 đồng; bị cáo Nguyễn Huy B phải nộp 2.526.000 đồng; mỗi bị cáo Lê Thanh P, Trần Minh N, Đỗ Quang K, Nguyễn Hoàng Minh T, Ngô Hoàng V phải nộp 700.000 đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
II. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Huy B, ông Nguyễn Hiếu Ng là người đại diện hợp pháp của bị hại không phải chịu.
III. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
CÁC THÀNH VIÊN
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Minh
Vương Minh Tâm
Đặng Văn Ý
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1) - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1) - TAND tỉnh Long An (2); - VKSND tỉnh Long An (1); - Cục THADS tỉnh Long An (1); - CA tỉnh Long An (1); - Sở tư pháp tỉnh Long An (1); - Trại tạm giam Công an tỉnh Long An (3) (để tống đạt cho bc 1b); - Trại giam Cây Cầy - Bộ Công an (2) (để tống đạt cho bị cáo); - Cơ sở cai nghiện ma túy Long An (2); - Lưu (5) (NTTP). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Ý |