- Tranh chấp gì? án hành chính — "NKK: Ông Đỗ Xuân O, bà Nguyễn Thị T - NBK: UBND huyện G, tỉnh Hải Dương; Chủ tịch UBND huyện G"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của UBND huyện G, sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2017/HCST ngày 25 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, đã quyết định:
- Căn cứ chính? Điều 241 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 578/2018/HCPT Ngày: 16/11/2018 V/v: Khiếu kiện quản lý về đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Bình;
Các Thẩm phán: Ông Lương Đức Chính;
Ông Nguyễn Văn Cường.
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Huy - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Vũ Quang Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số 64/2018/TL-PT ngày 29 tháng 3 năm 2018 về việc khiếu kiện "Quản lý về đất đai" do có kháng cáo của UBND huyện G đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2017/HCST ngày 25 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Theo quyết định Đưa vụ án ra xét xử số 7338/2018/QĐ-PT ngày 01 tháng 11 năm 2018 giữa:
1. Người khởi kiện: Ông Đỗ Văn O, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; đều có địa chỉ: thôn Đ, xã K, huyện G, tỉnh Hải Dương. Bà T uỷ quyền cho ông O tham gia tố tụng; ông O vắng mặt.
2. Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân (UBND) huyện G, đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trung Z – Chủ tịch Chủ tịch UBND huyện G, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Chủ tịch UBND huyện G: Ông Nguyễn Trung Z. Địa chỉ: Thị trấn S, huyện G, tỉnh Hải Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích cho UBND huyện G và Chủ tịch UBND huyện G: Ông Lương Đức C-Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện G (Theo Văn bản số 473/UBND-VP ngày 09/10/2018), có mặt.
- Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Dương F; Địa chỉ: Số 45 X, phường Y, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 21/02/2008, UBND huyện G ban hành Quyết định số 591/QĐ-UBND về việc thu hồi 12.435,34m2 tại ba xã V, K, H, huyện G giao cho cho ban quản lý các dự án giao thông thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh Hải Dương để nâng cấp, cải tại đường 394 (đoạn từ Km10+500 đến Km13+700). Trong đó có hộ gia đình ông Đỗ Văn O bị thu hồi 27,14m2.
Ngày 25/12/2008, UBND tỉnh Hải Dương ban hành Quyết định số 4967/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất để cải tạo, nâng cấp đường 394.
Ngày 14/12/2010, UBND huyện G ban hành quyết định thu hồi 18,48m2 đất của 27 hộ nằm ngoài phạm vi 6,25m tính từ tim đường 394 (141 hộ còn lại có diện tích bị thu hồi nằm trong phạm vi 6,25m tính từ tim đường nên UBND huyện không ban hành quyết định thu hồi đất). Hộ gia đình ông O không nhận được quyết định thu hồi diện tích 27,14m2 đất.
Ngày 16/12/2010, UBND huyện G ban hành Quyết định số 2869/QĐ-UBND phê duyệt chi tiết phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung, trong đó bồi thường 18,48m2 đất ở của 27 hộ nằm ngoài phạm vi 6,25m tính từ tim đường.
Theo ông O và bà T trình bày: Gia đình ông bà có diện tích 132m2 đất ở của bố đẻ là cụ Đỗ Văn Căn cho từ năm 1990; đất của cụ Căn có từ năm 1959 do thôn Đ, UBND xã K đổi cấp đất cho gia đình; ông bà ở trên diện tích đất này từ năm 1990 cho đến nay. Quá trình sử dụng đất luôn ổn định, không có tranh chấp với ai. Các cơ quan đoàn thể ở xã K đã xác định nguồn gốc đất của gia đình ông bà có từ năm 1959. Mặt khác, gia đình ông bà có tên trong bản đồ đo đạc 299 số thửa 227, tờ bản đồ số 11. Khi Nhà nước sử dụng 27,14m2 đất của gia đình ông bà vào mục đích cải tạo, mở rộng, nâng cấp đường nhưng không ban hành quyết định thu hồi đất cá biệt, không bồi thường mà chỉ hỗ trợ mức giá 50.000đ/m2, ông bà không đồng ý vì ông bà xác định diện tích 132m2 của gia đình ông bà là đất ở nên khi nhà nước thu hồi 27,14m2 trong diện tích này phải ban hành quyết định thu hồi và phải bồi thường theo giá thị trường nên ông bà đã khiếu nại.
Ngày 26/3/2013, Chủ tịch UBND huyện G ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 901/QĐ-UBND với nội dung không chấp nhận khiếu nại của các hộ dân trong đó có hộ ông O.
Ông Đỗ Văn O tiếp tục có đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương.
Ngày 30/10/2014, Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 2687/QĐ-UBND với nội dung không chấp nhận khiếu nại của các hộ dân, trong đó có hộ ông O.
Ngày 25/3/2015, ông Đỗ Văn O khởi kiện, sau đó bổ sung yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương:
- Buộc UBND huyện G ban hành quyết định thu hồi đất cá biệt và diện tích 27,14m2 đất bị thu hồi phải bồi thường cho gia đình ông O theo giá đất thị trường.
- Hủy một phần Quyết định giải quyết khiếu nại số 901/QĐ-UBND ngày 26/3/2013 của Chủ tịch UBND huyện G liên quan việc không bồi thường đất cho hộ ông O.
- Hủy một phần Quyết định giải quyết khiếu nại số 2687/QĐ-UBND ngày 30/10/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương liên quan việc không bồi thường đất cho hộ ông O.
Theo UBND huyện G và Chủ tịch UBND huyện G:
Thực hiện các Quyết định số 1138/QĐ-UBND ngày 29/3/2006; Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 21/02/2008 của UBND tỉnh về phê duyệt dự án, thu hồi đất phục vụ dự án cải tạo nâng cấp đường 394 (Km12+500 – Km13+700) đoạn qua xã K, huyện G. UBND huyện G đã ban hành Quyết định số 893/QĐ-UBND ngày 30/8/2006 thành lập Ban giải phóng mặt bằng (GPMB), đồng thời triển khai giao nhiệm vụ cho Ban GPMB phối hợp với UBND xã K tiến hành các quy trình về thu hồi đất như thông báo cho các hộ dân biết, đo đạc kiểm đếm, xác định loại đất, làm phương án đền bù, hỗ trợ việc thu hồi đất, tài sản trên đất.
Căn cứ vào Nghị định số 203/NĐ-HĐBT ngày 21/12/1982 của Hội đồng bộ trưởng quy định về hành lang bảo vệ an toàn giao thông, căn cứ vào quy định xác định mặt đường 394 có bề rộng mặt đường là 12,5m; báo cáo Tờ trình số 08 ngày 10/5/2007 của UBND xã K xác định diện tích 27,14m2 của gia đình ông O là đất hành lang an toàn giao thông. Vì thế khi thu hồi đất, UBND huyện G không ban hành quyết định thu hồi đất, không được bồi thường đất mà chỉ xem xét hỗ trợ công vượt lập đất theo mức giá 50.000đ/m2.
Chủ tịch UBND huyện G ban hành Quyết định số 901/QĐ-UBND ngày 26/3/2013 giải quyết khiếu nại là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật. UBND huyện G và Chủ tịch UBND huyện G không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn O.
Theo Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương trình bày: Sau khi nhận được đơn khiếu nại của ông O; Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương đã thành lập đoàn kiểm tra, xác minh các quy trình thực hiện đền bù khi thu hồi đất phục vụ dự án cải tạo nâng cấp đường 394 của hộ gia đình ông O cùng với hơn 90 hộ dân khác ở thôn Đ, xã K, huyện G. Căn cứ vào kết quả xác minh, Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương cho rằng huyện G xác định chiều rộng mặt đường 394 là 12,5m là chưa chính xác nhưng có lợi cho người dân nên chấp nhận phương án này. Tuy nhiên, tại Điều 2 của Quyết định số 2687/QĐ-UBND ngày 30/10/2014, Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương đã thận trọng giao cho UBND huyện G tổ chức rà soát lại, nếu người dân chưa có các loại giấy tờ sử dụng đất hợp pháp nhưng họ ra ở và sử dụng trước ngày 21/12/1982 thì xem xét bồi thường cho họ.
Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương xác định việc ban hành Quyết định số 2687/QĐ-UBND ngày 30/10/2014 về giải quyết khiếu nại là đúng trình tự, đúng thẩm quyền, đúng pháp luật nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn O.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2017/HCST ngày 25 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn O và bà Nguyễn Thị T.
- Buộc UBND huyện G phải ban hành quyết định thu hồi đất cá biệt đối với diện tích 27,14 m2 đất ở của hộ gia đình ông Đỗ Văn O, bà Nguyễn Thị T để phục vụ dự án cải tạo, nâng cấp đường 394 đoạn qua xã K (Km12+500 – Km13+700), huyện G.
- UBND huyện G phải thực hiện bồi thường cho gia đình ông Đỗ Văn O, bà Nguyễn Thị T diện tích 27,14m2 đất bị thu hồi theo giá đất ở theo quy định của pháp luật.
- Hủy một phần Quyết định giải quyết khiếu nại lần 1 số 901/QĐ-UBND ngày 26/3/2013 của Chủ tịch UBND huyện G về nội dung không công nhận khiếu nại của ông Đỗ Văn O, bà Nguyễn Thị T.
- Hủy một phần quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 số 2687/QĐ-UBND ngày 30/10/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương về nội dung không công nhận khiếu nại của ông Đỗ Văn O, bà Nguyễn Thị T.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/10/2017, UBND huyện G có đơn kháng cáo.
Ngày 10/10/2017, Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 288/QĐ-VKS-HC; nội dung: đề nghị Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội áp dụng khoản 3 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015, hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2017/HCST ngày 25 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Theo người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của UBND huyện G và Chủ tịch UBND huyện G: Diện tích 27,14m2 đất thu hồi của hộ gia đình ông Đỗ Văn O thuộc đất hành lang giao thông. Do đó, UBND huyện G đã không ban hành quyết định thu hồi đất, bồi thường, chỉ hỗ trợ công vượt lập cho hộ dân sử dụng đất nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông O. Tại Biên bản thẩm định ngày 18/9/2018, hiện trạng gia đình ông O đang sử dụng diện tích 168m2 đất, diện tích đo đạc năm 2001 là 134m2, trong đó diện tích tăng phía trước là 24m2; diện tích tăng phía sau 10m2. Quá trình sử dụng đất hộ ông O có chuyển nhượng 4m mặt đường 394 cho bà Vũ Thị Dương, nên diện tích biến động. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của UBND huyện G.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nêu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự và tố tụng hành chính.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng hành chính. Đơn kháng cáo của UBND huyện G đúng quy định của Luật tố tụng hành chính nên đủ điều kiện xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Đất của hộ ông O chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; diện tích đang sử dụng là 132m2; diện tích nộp thuế hàng năm là 132m2. Theo Biên bản kiểm kê ngày 21/9/2006 thể hiện 27,14m2 đất hộ gia đình ông O được hỗ trợ 50.000đồng/m2 là đất vượt lập; ông O đã ký biên bản. Tại Biên bản thẩm định ngày 18/9/2018 đã xác định: Từ tim đường 394 đến mép đường 394 là 3,74m; từ tim đường 394 đến diện tích đất sử dụng là 6,32m. Tổng diện tích gia đình ông O đang sử dụng 168m2 đất. So với bản đồ năm 2001: diện tích tăng phía trước giáp đường 394 là 24m2; diện tích tăng phía sau thửa đất là 10m2. Như vậy, có đủ căn cứ xác định diện tích 27,14m2 của gia đình ông O được hỗ trợ 50.000đồng/m2 không nằm trong diện tích thửa đất hợp pháp của gia đình ông O. Vì vậy, UBND huyện G không ra quyết định thu hồi và chỉ hỗ trợ 50.000đồng/m2 là có cơ sở. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào Biên bản họp hội đồng xét duyệt xác định nguồn gốc đất thuộc diện GPMB ngày 28/4/2010 là biên bản đã bị Biên bản ngày 06/10/2010 thay thế và không tiến hành thẩm định tại chỗ đất của ông O là chưa thực hiện đầy đủ việc chứng minh, thu thập chứng cứ dẫn đến bản án trái pháp luật. Vì vậy, kháng nghị theo hướng huỷ sơ thẩm là có căn cứ. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã ra quyết định uỷ thác thu thập chứng cứ, đã có kết quả thẩm định tại chỗ, đủ cơ sở để sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo, bác yêu cầu khởi kiện của ông O và bà T. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Khoản 2 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015, sửa bản án sơ thẩm; bác yêu cầu khởi kiện của ông O và bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; nghe người bị kiện trình bày; nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
. Về tố tụng:
Quyết định giải quyết khiếu nại số 901/QĐ-UBND ngày 26/3/2013 của Chủ tịch UBND huyện G và Quyết định giải quyết khiếu nại số 2687/QĐ-UBND ngày 30/10/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính; đối với yêu cầu khi thu hồi đất phải ban hành quyết định thu hồi đất cá biệt và bồi thường theo giá đất ở đã được giải quyết tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 901/QĐ-UBND và Quyết định giải quyết khiếu nại số 2687/QĐ-UBND. Ngày 25/3/2015, ông Đỗ Văn O và bà Nguyễn Thị T khởi kiện là vẫn còn thời hiệu khởi kiện; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương theo quy định tại Điều 30, Điều 32, khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
. Về nội dung:
. Về hình thức, trình tự, thẩm quyền ban hành Quyết định số 901/QĐ-UBND và Quyết định số 2687/QĐ-UBND:
Theo quy định của Luật đất đai, Luật khiếu nại, Luật tổ chức chính quyền địa phương thì Chủ tịch UBND huyện G và Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương ban hành các quyết định giải quyết khiếu nại là đảm bảo về hình thức, đúng về trình tự và thẩm quyền.
. Về nội dung của Quyết định số 901/QĐ-UBND và Quyết định số 2687/QĐ-UBND:
Xét về nguồn gốc đất: Theo ông O và bà T nguồn gốc đất ở của gia đình ông bà là của bố đẻ là cụ Đỗ Văn Căn cho từ năm 1990; đất của cụ Căn có từ năm 1959 do thôn Đ, UBND xã K đổi cấp đất cho gia đình; nhưng ông O không có chứng cứ chứng minh. Thực trạng thửa đất của hộ ông O chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không có các loại giấy tờ theo quy định của pháp luật về đất đai; căn cứ bản đồ đo vẽ địa chính năm 2001, hộ gia đình ông O sử dụng thửa đất số 214, diện tích 186m2, nhưng ông O đã chuyển nhượng một phần diện tích cho bà Vũ Thị Dương nên chỉ còn 132m2. Theo Biên bản kiểm kê, xác định hạng đất, loại đất do Ban giải phóng mặt bằng lập ngày 21/9/2006 diện tích thu hồi là 27,14m2 là đất vượt lập, ông O ký biên bản. Tại Biên bản thẩm định ngày 18/9/2018 đã xác định: Từ tim đường 394 đến mép đường 394 là 3,74m; từ tim đường 394 đến diện tích đất sử dụng là 6,32m. Tổng diện tích gia đình ông O đang sử dụng 168m2 đất. So với bản đồ năm 2001: diện tích tăng phía trước giáp đường 394 là 24m2; diện tích tăng phía sau thửa đất là 10m2. Như vậy, có đủ căn cứ xác định diện tích 27,14m2 không nằm trong diện tích thửa đất hợp pháp của gia đình ông O.
Phía người bị kiện cho rằng diện tích thu hồi của hộ ông O 27,14m2 thuộc công trình giao thông, không thu hồi vào đất của hộ ông O; trong quá trình sử dụng đất ông O có chuyển nhượng bà Dương diện tích mặt đường 394 là 04m nên diện tích đất của hộ ông O có thay đổi về diện tích. Việc UBND huyện đã không ban hành quyết định thu hồi đất và bồi thường về đất cho hộ ông O mà chỉ hỗ trợ công bồi đắp là có cơ sở.
Như vậy, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông O cho rằng phải ban hành quyết định thu hồi đối với diện tích 27,14m2 đất và phải bồi thường theo giá đất ở tại thời điểm ban hành quyết định thu hồi đất. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu huỷ một phần Quyết định số 901/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND huyện G và Quyết định số 2687/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương. Tòa án cấp sơ thẩm đã chưa đánh giá đúng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ; không thẩm định hiện trạng hộ gia đình ông O đang sử dụng diện tích đất để xem xét diện tích đất gia đình ông O bị thu hồi 27,14m2 là đất ở hay đất vượt lập, mà đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông O là không chính xác. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần chấp nhận kháng cáo của UBND huyện G và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sửa bản án sơ thẩm.
.Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của UBND huyện G được chấp nhận nên không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm. Ông Đỗ Văn O phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương và Chủ tịch UBND huyện G không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Về chi phí thẩm định phía UBND huyện G tự nguyện chịu mọi chi phí, nên không yêu cầu người khởi kiện phải chịu chi phí thẩm định.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 241 Luật tố tụng hành chính.
Chấp nhận kháng cáo của UBND huyện G, sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2017/HCST ngày 25 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, đã quyết định:
Bác yêu cầu buộc UBND huyện G ban hành quyết định thu hồi đất cá biệt đối với diện tích 27,14m2 của hộ gia đình ông Đỗ Văn O và bà Nguyễn Thị T.
Bác yêu cầu hủy một phần Quyết định số 901/QĐ-UBND ngày 26/3/2013 giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND huyện G liên quan đến quyền và lợi ích của hộ gia đình ông Đỗ Văn O và bà Nguyễn Thị T.
Bác yêu cầu hủy một phần Quyết định số 2687/QĐ-UBND ngày 30/10/2014 giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương liên quan đến quyền và lợi ích của hộ gia đình ông Đỗ Văn O và bà Nguyễn Thị T.
Bác yêu cầu buộc UBND huyện G phải bồi thường cho hộ gia đình ông O diện tích 27,14m2 đất với giá theo quy định của pháp luật tại thời điểm bồi thường đối với loại đất ở.
Về án phí: UBND huyện G không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm; hoàn trả cho UBND huyện G 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0002341 ngày 26/10/2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương và Chủ tịch UBND huyện G không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Ông Đỗ Văn O phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm được đối trừ 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AB/2014/0003311 ngày 10/3/2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- TAND tỉnh Hải Dương ;
- VKSND tỉnh Hải Dương ;
- Cục THA DS tỉnh Hải Dương;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, TANDCC.
Lê Thị Thúy Bình THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Đức Chính Nguyễn Văn Cường
Lê Thị Thúy Bình
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Hải Dương; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cục THA dân sự tỉnh Hải Dương; - Đương sự (theo địa chỉ); - Lưu HS, HCTP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Bình |