- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: Bà Dương Thị Huỳnh A - Bị đơn: . Bà Chung Thị T"
- Tòa quyết gì? Công nhận s thỏa thuận của các đư ng s tại phiên tòa.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 12 Luật Đất đai; Điều 166 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 576/2023/DS-PT Ngày: 27 - 11- 2023 V/v tranh chấp:“Quyền sử dụng đất” |
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết Linh
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Đạt
Bà Nguyễn Ái Đoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thúy Thảo- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 298/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân s s thẩm số 169/2023/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân huy n Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang b kháng cáo.
Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 803/2023/QĐ-PT ngày 11 tháng 10 năm 2023 giữa các đư ng s :
- Nguyên đơn: Bà Dư ng Th Huỳnh A, sinh năm: 1950 (C m t).
Đ a chỉ: ấp B, xã T, huy n G, tỉnh Tiền Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Trần Th Kim P- Văn phòng L1 chi nhánh G, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T (C m t).
- Bị đơn:
1. Bà Chung Th T, sinh năm 1956 (C m t);
2. Ông Trần Hoàng H, sinh năm 1959 (Xin vắng m t).
Cùng đ a chỉ: ấp B, xã T, huy n G, tỉnh Tiền Giang.
- Người kháng cáo: Nguyên đ n bà Dư ng Th Huỳnh A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm, nguyên đơn là bà Dương Thị Huỳnh A trình bày: Vào năm 2017, bà c nhận thừa kế phần đất của bà Ngô Th L, phần đất c di n tích là 4.560,2 m2, đất thuộc thửa số 33, tờ bản đồ số 10, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00572 do Ủy ban nhân dân huy n G, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 17/6/2017, đất tọa lạc tại ấp B, xã T, huy n G, tỉnh Tiền Giang. Phần đất này, c hướng Tây giáp với đất của bà T và ông H. Vào khoảng tháng 06/2019, Bà c xây d ng hàng rào trụ xi măng, kéo lưới B40 giáp với đất của ông H và bà T để bảo v cây trái trên đất của bà. Khi xây d ng hàng rào, bà c chừa đất của bà lại, cụ thể: Hướng N 0,6m và hướng Bắc khoảng 03m nhưng ông H và bà T cho rằng bà đã xây d ng hàng rào xong, thì phần đất bên ngoài hàng rào là đất của bà T và ông H.
Di n tích đất bà chừa là khoảng 120m2 nhưng khi đo đạc th c tế là 35,5m2, nay bà xác đ nh phần ranh theo hướng N là không tranh chấp và ranh theo hướng Bắc là 1,4m (qua đo đạc th c tế).
Ngoài ra, trước đây ông H và bà T c trồng dừa trên đất của bà (phần di n tích 35,5 m2 đang tranh chấp) nhưng do c tranh chấp nên ông H và bà T đã đốn bỏ và trồng lại cây khác trên đất mà Tòa án đã tiến hành khảo sát và đ nh giá.
Do đ , nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H và bà T phải trả lại phần đất đã lấn chiếm th c tế là 35,5m2, yêu cầu th c hi n ngay khi án c hi u l c pháp luật, bà không đồng ý hoàn lại giá tr cây trồng trên đất tranh chấp và buộc ông H và bà T phải ch u toàn bộ chi phí tố tụng.
Bị đơn bà Chung Thị T trình bày: Bà c phần đất c di n tích là 2.155,8m2, đất thuộc thửa số 34, tờ bản đồ số 10, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H06732 ngày 10/07/2009, đất do UBND huy n G cấp cho bà Chung Th T. Đất bà c hướng Đông giáp đất của bà Huỳnh A, bà sử đất ổn đ nh từ trước tới nay, không tranh chấp với mẹ của bà Huỳnh A là bà L về ranh đất. Bà Huỳnh A và bà cũng đã thống nhất ranh từ trước nên bà Huỳnh A mới xây hàng rào lưới B40, trụ bê tông. Khi bà Huỳnh A xây hàng rào, thì do hai bên gia đình thống nhất nên không c tranh chấp gì về ranh đất và nay không biết lý do gì mà bà Huỳnh A cho rằng bà lấn đất của bà Huỳnh A. Đối với đất của bà, thì bà được ông bà để lại và bà cũng đã sử dụng đến nay đã gần 40 năm sau đ bà được cấp chủ quyền đất nhưng không ai tranh chấp gì đ c bi t đối với bà L là mẹ của bà Huỳnh A.
Nay bà không đồng ý với yêu cầu khởi ki n của bà Huỳnh A vì bà không c lấn đất của bà Huỳnh A.
Bị đơn ng Trần Hoàng H trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà T và cho rằng ông c trồng hàng dừa trên phần đất tranh chấp cách nay khoảng trên dưới 40 năm theo như bà T trình bày nhưng sau đ do dừa lão không c hi u quả kinh tế nên ông đã đốn bỏ và trồng lại cây trái mới.
Tại Bản án dân s thẩm số 169/2023/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân huy n Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân s ; Điều 166, Điều 175, Điều 176, Điều 186 và Điều 246 Bộ Luật dân s ; Điều 12, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi ki n của bà Dư ng Th Huỳnh A về vi c khởi ki n ông Trần Hoàng H và bà Chung Th T đòi đất đã lấn chiếm với di n tích đo đạc th c tế là 35,5m2 (c họa đồ đất kèm theo).
Buộc phía bà Huỳnh A phải ch u toàn bộ chi phí tố tụng là 10.603.011 đồng, bà Huỳnh A đã nộp trước đ nên xem như Bà đã th c hi n xong.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đư ng s .
Ngày 30/6/2023 và ngày 04/7/2023, bà Dư ng Th Huỳnh A c đ n kháng cáo và đ n kháng cáo bổ sung với nội dung: êu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của bà về vi c yêu cầu b đ n trả lại cho bà phần đất lấn chiếm và b đ n phải thanh toán lại cho bà tất cả các chi phí tố tụng bà đã bỏ ra.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đ n và b đ n thỏa thuận như sau: B đ n đồng ý giao cho nguyên đ n được toàn quyền quản lý, sử dụng và đ nh đoạt phần đất tranh chấp c di n tích là 35,5m2 tại ấp B, xã T, huy n G, tỉnh Tiền Giang cùng cây trồng trên phần đất, b đ n t di dời 01 cây kiểng ra khỏi phần đất c di n tích là 35,5m2. Nguyên đ n không phải hoàn trả giá tr cây trồng cho b đ n và t nguy n ch u toàn bộ chi phí tố tụng.
Người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đ n đề ngh Hội đồng xét xử công nhận s thỏa thuận của các đư ng s tại phiên tòa.
Ý kiến phát biểu của đại di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang: về vi c tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến khi xét xử Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy đ nh của Bộ luật tố tụng dân s . Người tham gia tố tụng chấp hành đúng nội quy phòng xử án và th c hi n quyền, nghĩa vụ đúng pháp luật; Về nội dung vụ án: Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay các đư ng s đã thỏa thuận được với nhau và s thỏa thuận này là hoàn toàn t nguy n không trái với quy đ nh của pháp luật, đề ngh Hội đồng xét xử ghi nhận.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài li u, chứng cứ c trong hồ s vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nội dung yêu cầu kháng cáo của bà Dư ng Th Huỳnh A, s thỏa thuận của các đư ng s tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của đại di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Tòa án cấp s thẩm xác đ nh quan h pháp luật tranh chấp “Ranh giới quyền sử dụng đất” là chưa chính xác, cần xác đ nh lại quan h pháp luật tranh chấp là “Quyền sử dụng đất”.
B đ n ông Trần Hoàng H c đ n xin vắng m t, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 điều 296 Bộ luật tố tụng dân s xử vắng m t đối với ông H.
Về nội dung vụ án: Bà Dư ng Th Huỳnh A c di n tích đất là 4.560,4 m2 thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 10, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00572 do Ủy ban nhân dân huy n G, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 17/6/2017, đất tọa lạc tại ấp B, xã T, huy n G, tỉnh Tiền Giang. Phần đất này về hướng Tây giáp với thửa đất số 34, tờ bản đồ số 10, di n tích 2.155,8m2 của bà T và ông H do bà Chung Th T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H06732 ngày 10/07/2009 do Ủy ban nhân dân huy n G, tỉnh Tiền Giang cấp. Bà Huỳnh A cho rằng trong quá trình sử dụng đất, bà T và ông H đã lấn qua phần đất của bà c chiều ngang hướng Nam khoảng 0,6m và chiều ngang hướng Bắc qua đo đạc th c tế là 1,4m, tổng di n tích là 35,5m2. Bà A yêu cầu bà T, ông H trả lại cho bà di n tích đất là 35,5m2 mà ông H, bà T đã lấn chiếm trồng cây.
Tòa án cấp s thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi ki n của bà Dư ng Th Huỳnh A, bà Huỳnh A không đồng ý nên c yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà Dư ng Th Huỳnh A và bà Chung Th T đã thỏa thuận được với nhau về vi c giải quyết toàn bộ vụ án là: Bà Chung Th T và ông Trần Hoàng H giao cho bà Dư ng Th Huỳnh A toàn quyền quản lý, sử dụng và đ nh đoạt phần đất c di n tích là 35,5m2 cùng cây trồng trên đất tại ấp B, xã T, huy n G, tỉnh Tiền Giang. Bà T, ông H t di dời 01 cây kiểng ra khỏi phần di n tích đất trên. Bà Dư ng Th Huỳnh A không phải hoàn trả giá tr cây trồng trên đất cho bà T, ông H và t ch u toàn bộ chi phí tố tụng.
Xét thấy, vi c thỏa thuận của nguyên đ n và b đ n tại phiên tòa phúc thẩm là hoàn toàn t nguy n, phù hợp với pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử ghi nhận s thỏa thuận của các đư ng s theo quy đ nh tại Điều 300 của Bộ luật tố tụng dân s và sửa bản án s thẩm theo khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân s .
Xét đề ngh của luật sư bảo v quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Dư ng Th Huỳnh A là c căn cứ và phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét lời đề ngh của đại di n Vi n kiểm sát là phù hợp với nhận đ nh của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bà Dư ng Th Huỳnh A là người cao tuổi và c đ n xin miễn tiền án phí nên được xem xét miễn án phí theo quy đ nh của pháp luật. Bà Chung Th T và ông Trần Hoàng H là người cao tuổi và tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bà T c yêu cầu xin được miễn tiền án phí. Xét thấy bà T, ông H thuộc đối tượng được miễn tiền án phí theo quy đ nh của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận và miễn tiền án phí dân s s thẩm cho bà T, ông H.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điều 300, khoản 2 điều 308, điều 309 Bộ luật tố tụng dân s .
Căn cứ điều 175, điều 189, điều 190 Bộ luật dân s ; Điều 12, điều 166 và điều 203 Luật đất đai; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận s thỏa thuận của các đư ng s tại phiên tòa. Sửa bản án dân s s thẩm số 169/2023/DS-ST ngày 20/6/2023 của Tòa án nhân dân huy n Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
2. Bà Chung Th T và ông Trần Hoàng H trả lại cho bà Dư ng Th Huỳnh A phần đất lấn chiếm c di n tích 35,5m2 nằm trong thửa đất số 33, tờ bản đồ số 10, di n tích là 4.560,4m2 tại ấp B, xã T, huy n G, tỉnh Tiền Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00572 ngày 01/9/2011 do Ủy ban nhân dân huy n G, tỉnh Tiền Giang cấp cho ông Dư ng Hiếu N1 và đã được cập nhật thay đổi trang 4 cho bà Dư ng Th Huỳnh A. (C s đồ kèm theo).
3. Bà Chung Th T và ông Trần Hoàng H t nguy n di dời 01 cây kiểng ra khỏi phần đất c di n tích 35,5m2 của bà Dư ng Th Huỳnh A, th c hi n khi án c hi u l c pháp luật.
4. Về chi phí tố tụng: Bà Dư ng Th Huỳnh A t nguy n ch u với số tiền là 10.603.001 đồng.
4. Về án phí: Miễn tiền án phí dân s s thẩm và án phí dân s phúc thẩm cho bà Huỳnh A, bà T và ông H.
Bản án phúc thẩm c hi u l c pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại điều 2 Luật thi hành án dân s ; thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguy n thi hành án ho c b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân s ; thời hi u thi hành án được th c hi n theo quy đ nh tại điều 30 Luật thi hành án dân s .
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND huy n G; - Chi cục THADS huy n G; - Các đư ng s ; - Lưu hồ s vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Tuyết Linh |