- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Thành T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm yêu cầu kháng cáo của bị hại tăng hình phạt đối với bị cáo Chu Thành T. Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2023/HSST ngày 10/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Chu Thành T. Cụ thể:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 574/2023/HS-PT Ngày: 21/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn VĐ
Các Thẩm phán:
Ông Trần XTh
Ông Phạm VH
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị XTha, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội: Ông Bùi NgT, Kiểm sát viên cao cấp tham gia phiên tòa.
Ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 529/2023/TLPT-HS ngày 15 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Chu Thành Tphạm tội “Giết người” do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2023/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Chu Thành T- sinh ngày 22/8/1973, tại huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Khu phố Chí Linh, thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa; trình độ học vấn: Lớp 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Chu Kim Cẩm, sinh năm 1943; con bà Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1944; vợ Lê Thị Quyên, sinh năm 1980 (là bị hại và đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 05/9/2022 đến ngày 11/9/2022 chuyển tạm giam
tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
- Bị hại có kháng cáo: Chị Lê Thị Q- sinh năm 1980; nơi cư trú: Khu phố Chí Linh, thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Chu Thành T: Luật sư Vũ Quốc Tuấn -
Văn phòng Luật sư Thiên Phúc - Đoàn luật sư tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chu Thành T, sinh năm 1973 và chị Lê Thị Quyên, sinh năm 1980, cùng trú tại Khu phố Chí Linh, thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa kết hôn với nhau năm 2005 và có 02 con chung. Đến tháng 11/2021 Chu Thành Tvà Chị Lê Thị Qly hôn, nguyên nhân do Tiến nghi chị Quyên có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác. Tuy nhiên, sau khi ly hôn, Chu Thành Tvẫn liên tục nhắn tin, điện thoại đe dọa sẽ giết chị Quyên nếu chị Quyên không rời khỏi đất Lang Chánh đi nơi khác sinh sống.
Sáng ngày 05/9/2022, Chu Thành Tmượn xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, BKS: 36G5-149.20 của chị Bùi Thị Lan, sinh năm 1979, ở thị trấn Cành Nàng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa (là em dâu Tiến), rồi điều khiển xe mô tô đi từ nhà chị Lan đến ngã ba Đồng Tâm, huyện Bá Thước mua 01 con dao (dạng dao rựa bằng kim loại, cán bằng gỗ, lưỡi dao dài 30cm, phần rộng nhất 8,5cm, một lưỡi sắc) tại một quán tạp hóa ven đường và tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến trường Tiểu học Tân Phúc thuộc xã Tân Phúc, huyện Lang Chánh với mục đích tìm đánh chị Lê Thị Quyên. Đến khoảng 06 giờ 20 phút cùng ngày, thấy chị Quyên điều khiển xe mô tô đi vào nhà để xe của trường, Tiến dựng xe ở cổng trường rồi cầm dao chạy về phía chị Quyên và nói: “Con dâm phụ này, hôm nay tau thịt mày” rồi vung dao chém nhiều nhát vào người chị Quyên, trong đó có 01 nhát trúng vào vùng đầu chị Quyên nhưng do chị Quyên đội mũ bảo hiểm nên chỉ làm vỡ mũ bảo hiểm, chị Quyên không bị thương tích ở vùng đầu. Khi bị chém, chị Quyên bỏ chạy về phía sân trường thì Tiến tiếp tục đuổi theo nhưng bị các giáo viên của trường Tiểu học Tân Phúc khống chế, bắt giữ, còn Chị Lê Thị Qđược đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện Lang Chánh để cấp cứu.
Tại Biên bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1198/TTPY ngày 11/11/2022 của Trung tâm pháp y Thanh Hóa: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Lê Thị Quyên bị tổn hại 63% (sáu mươi ba phần trăm).
Tại Biên bản kết luận giám định pháp y về cơ chế hình thành thương tích số 1221/TTPY ngày 11/11/2022 của Trung tâm Pháp y Thanh Hóa. Nếu đối tượng sử dụng con dao (dạng dao rựa bằng kim loại, cán bằng gỗ, lưỡi dao dài 30cm, phần rộng nhất 8,5cm, một lưỡi sắc) chém vào người Lê Thị Quyên thì có thể gây ra các vết thương như đã nêu trên. Các vết thương trên người Lê Thị Quyên không được xử lý y tế kịp thời thì có thể gây ra hậu quả chết người.
* Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Qyêu cầu Chu Thành Tbồi thường dân sự cho chị Quyên tổng số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).
Ngày 22/11/2022 anh Chu Văn Tuyển, sinh năm 1975, trú tại thị trấn Cành Nàng, huyện Bá Thước (là em trai Chu Thành T) thay mặt Chu Thành Tđã bồi thường cho chị Quyên số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).
Cáo trạng số 28/CT-VKS-P2 ngày 08/02/2023,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố Chu Thành Tvề tội “Giết người”, theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2023/HSST ngày 10/4/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 15; Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Chu Thành T13 (mười ba) 06 (sáu) tháng năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05/9/2022).
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 590 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Chu Thành Tbồi thường thiệt hại cho Chị Lê Thị Qsố tiền 100.000.000 đồng nhưng được trừ đi số tiền gia đình bị cáo Chu Thành Tđã bồi thường là 40.000.000 đồng. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường 60.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng, án phí, thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/4/2023, bị hại Chị Lê Thị Qcó đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử tăng hình phạt và tăng bồi thường đối với bị cáo Chu Thành T.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị hại Lê Thị Quyên tự nguyện rút một phần kháng cáo về yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Chu Thành T; giữ nguyên yêu cầu tăng mức bồi thường, lý do: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị cáo Tiến phải bồi thường số tiền 100 triệu đồng (đã bồi thường 40 triệu đồng) là quá thấp so với tỷ lệ thương tích mà bị cáo gây ra cho chị. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Quyên xuất trình hồ sơ bệnh án kèm theo các hóa đơn, chứng từ thăm khám, điều trị tại bệnh viện từ sau khi xét xử sơ thẩm cho đến nay. Chị Quyên yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu) đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và nhân thân của bị cáo, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và căn cứ kháng cáo của bị hại, kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Chu Thành T13 năm 06 tháng tù về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại tự nguyện rút kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo Tiến, nên đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm. Đối với kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự, ngoài số tiền mà cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải bồi thường, Chị Lê Thị Qđề nghị bị cáo bồi thường thêm số tiền 100.000.000đồng do sau khi vụ án xảy ra cho đến nay, sức khỏe chị thường xuyên suy yếu, phải đi thăm khám và điều trị tại bệnh viện. Bị cáo Chu Thành Tnhất trí với yêu cầu của bị hại. Do đó, kháng cáo tăng mức bồi thường của chị Quyên có cơ sở chấp nhận.
Từ các phân tích trên, đề nghị HĐXX căn cứ Điều 348, điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; đình chỉ xét xử phúc thẩm về phần hình phạt; sửa bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự, tăng mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo Tiến, buộc bị cáo phải bồi thường thêm cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tăng hình phạt của bị hại; về TNDS, tại cấp sơ thẩm, bị cáo Chu Thành Tvà bị hại đã thống nhất, thỏa thuận bồi thường 100.000.000 đồng cho bị hại. Nay chị Quyên yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm 100.000.000 đồng là không có cơ sở, đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đơn kháng cáo của bị hại trong thời hạn luật định, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Chu Thành Tthành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại Cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; các biên bản, sơ đồ và bản ảnh khám nghiệm hiện trường; các bản kết luận giám định; các tang vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Khoảng 06h20p ngày 05/9/2022 tại Trường tiểu học Tân Phúc, xã Tân Phúc, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa, Chu Thành Tđã dùng 01 con dao (dạng dao rựa) chém nhiều nhát vào người chị Lê Thị Quyên, trong đó có 01 nhát trúng vào vùng đầu chị Quyên nhưng do chị Quyên đội mũ bảo hiểm nên chỉ làm vỡ mũ bảo hiểm. Hậu quả chị Quyên bị tổn hại 63% sức khỏe. Việc chị Quyên không chết là do được cấp cứu kịp thời.
Do có hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Chu Thành Tvề tội “Giết người” với tình tiết tăng nặng định khung “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của bị hại, Hội đồng xét xử thấy:
. Về hình phạt đối với bị cáo: Trong vụ án này, chỉ vì mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa Chu Thành Tvà Chị Lê Thị Qđã được giải quyết bằng quyết định ly hôn của Tòa án, tuy nhiên, bị cáo Tiến vẫn bực tức, hận thù chị Quyên do nghi ngờ bị chị Quyên phản bội nên Tiến đã liên tục điện thoại, nhắn tin chửi bới, đe dọa sẽ giết chị Quyên nếu chị Quyên không rời khỏi đất Lang Chánh để đến nơi khác sinh sống. Sau đó, Chu Thành Tđã sử dụng hung khí là con dao (loại dao rựa) để chém vào các vị trí trọng yếu trên cơ thể của chị Quyên.
Hành vi phạm tội của bị cáo Tiến là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên đòi hỏi cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo mới đảm bảo tác dụng tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Chu Thành T13 năm 06 tháng tù về tội “Giết người” là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại tự nguyện rút kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm.
. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bị cáo và bị hại đã thống nhất thỏa thuận các khoản bồi thường theo các chi phí có hóa đơn, chứng từ hợp lệ được pháp luật quy định do chị Quyên xuất trình là 100.000.000đ (được trừ đi số tiền gia đình bị cáo Tiến đã bồi thường trước đó là 40.000.000đ), còn lại 60.000.000đ buộc bị cáo Tiến tiếp tục bồi thường cho chị Lê Thị Quyên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại xuất trình thêm các hóa đơn, chứng từ và yêu cầu bị cáo phải chi trả thêm số tiền 100.000.000đ gồm: Các khoản viện phí, thuê xe đi lại, ăn uống, thuê nhà nghỉ, thăm khám, điều trị... Bị cáo Chu Thành Tnhất trí với yêu cầu của bị hại.
Do vậy, kháng cáo về phần tăng mức bồi thường của bị hại là có cơ căn chấp nhận.
. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao Hà Nội: Xét thấy, các căn cứ, lập luận và đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở, được chấp nhận. Quan điểm của Luật sư bào chữa về phần TNDS không được chấp nhận.
. Về án phí: Bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ Điều 348, điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm yêu cầu kháng cáo của bị hại tăng hình phạt đối với bị cáo Chu Thành T. Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2023/HSST ngày 10/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Chu Thành T. Cụ thể:
Tuyên bố: Bị cáo Chu Thành Tphạm tội “Giết người”.
Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38; Điều 57 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Chu Thành T13 (Mười ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/9/2022.
2. Chấp nhận kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại của bị hại. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2023/HSST ngày 10/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về phần trách nhiệm dân sự, cụ thể:
Áp dụng: Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 590 của Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Chu Thành Tphải bồi thường thiệt hại cho Chị Lê Thị Qsố tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng nhưng được trừ đi số tiền gia đình bị cáo Chu Thành Tđã bồi thường là 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.
Ghi nhận sự thỏa thuận, thống nhất giữa bị cáo Chu Thành Tvà bị hại Lê Thị Quyên tại phiên tòa phúc thẩm về việc bị cáo bồi thường thêm cho chị Quyên số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường 160.000.000 (một trăm triệu) đồng.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án không thi hành đầy đủ thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí: Bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân Thảo
Phạm Việt Hà
Nguyễn Vũ Đông
| Nơi nhận: - Vụ I - TANDTC; - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa; - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo (qua TTG); - Bị hại (theo địa chỉ); - Lưu HSVA, P.HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vũ Đông |