vanban.org

Bản án 574/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Ngọc L.

Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Ngọc L được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H. Về nuôi con chung: Giao 03 con chung tên Nguyễn Mộc Thảo N, sinh ngày 12/9/2015; Nguyễn Hà V, sinh ngày 30/5/2018 và Nguyễn Lê Hoài A, sinh ngày 22/01/2021 cho chị Đặng Thị Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đặng Thị Ngọc L yêu cầu ly hôn tranh chấp về nuôi con với anh Nguyễn Ngọc H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Ngọc L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số 574/2023/HNGĐ-ST
Ngày 29-12-2023
V/v “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Phong

2. Bà Phạm Hoàng Diễm My

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Xuân Diệu - Thư ký Tòa án Nhân dân thị xã Hoài Nhơn.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 400/2023/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 298/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Ngọc L, sinh năm 1990

Địa chỉ: Khu phố L, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1988

Địa chỉ: Khu phố L, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Chị Đặng Thị Ngọc L trình bày:

Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Ngọc L và anh Nguyễn Ngọc H đăng ký kết hôn vào ngày 24/02/2015 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H (nay là phường H, thị xã H), tỉnh Bình Định. Thời gian đầu sau kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc nhưng kể từ năm 2019 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do anh H đam mê cá độ bóng đá, không lo làm ăn để xây dựng gia đình; mặc dù chị L cùng với gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh H vẫn chứng nào tật nấy làm mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng gay gắt. Vì không chịu đựng được nên vào tháng 01/2023 chị L đã đưa 03 con về nhà cha mẹ ruột chị L tại tỉnh Lâm Đồng sinh sống. Kể từ đó cho đến nay phần ai nấy sống, không ai quan tâm gì đến ai, nay thấy hôn nhân không hạnh phúc nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Mộc Thảo N, sinh ngày 12/9/2015; Nguyễn Hà V, sinh ngày 30/5/2018 và Nguyễn Lê Hoài A, sinh ngày 22/01/2021. Khi ly hôn, chị L yêu cầu nuôi 03 con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

+ Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Ngọc H không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của chị L, không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập, thông báo và giấy báo.

+ Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, cho ly hôn với anh H; về con chung: giao 03 con chung cho chị L nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: không có; về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị L phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con nên theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự quan hệ pháp luật được xác định là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn anh H đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Khu phố L, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định nên theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định có thẩm quyền giải quyết vụ án.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn xét xử vắng mặt. Bị đơn anh H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Qua xác minh tại Công an phường H thì anh H có hộ khẩu thường trú tại Khu phố L, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định, tàng thư không có thông tin, tài liệu thể hiện anh H đã chuyển khẩu đi nơi khác và nơi cư trú hiện nay của anh H. Vì anh H vắng mặt, thỉnh thoảng mới về nhà nên Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho cha anh H là ông Nguyễn Ngọc S, ông S cam kết giao lại tận tay các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H để anh H biết và thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Trong thời gian giải quyết vụ án, anh H không nộp văn bản ghi ý kiến của mình, không chấp hành việc triệu tập của Tòa án. Do đó, Tòa án không lấy ý kiến của anh H liên quan đến yêu cầu khởi kiện của chị L được. Anh H không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 72 và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo quy định tại các Điều 91; 96 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, nên phải chịu trách nhiệm cho việc không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Ngọc L và anh Nguyễn Ngọc H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Tuy nhiên, sau khi kết hôn, vợ chồng không hạnh phúc, chị L bỏ về nhà cha mẹ ruột tại Lâm Đồng để sinh sống, anh H biết nhưng cũng không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ khi chị L bỏ đi cho tới nay, chị L và anh H phần ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai, cho thấy hôn nhân giữa chị L và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị L được ly hôn anh H.

Việc nuôi con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Mộc Thảo N, sinh ngày 12/9/2015; Nguyễn Hà V, sinh ngày 30/5/2018 và Nguyễn Lê Hoài A, sinh ngày 22/01/2021, hiện các con đang ở với chị L. Trong quá trình giải quyết vụ án, cháu N có nguyện vọng được ở với mẹ và chị L cũng có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc ba con chung. Thời gian qua ba cháu do chị L chăm sóc nuôi dưỡng, phát triển bình thường, chị L có đủ điều kiện để nuôi con chung. Để đảm bảo cho sự phát triển bình thường, cuộc sống ổn định của ba cháu nên giao 03 cháu cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án thì chị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Ngọc L.

- Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Ngọc L được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H.

- Về nuôi con chung: Giao 03 con chung tên Nguyễn Mộc Thảo N, sinh ngày 12/9/2015; Nguyễn Hà V, sinh ngày 30/5/2018 và Nguyễn Lê Hoài A, sinh ngày 22/01/2021 cho chị Đặng Thị Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng cho con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng cho con theo qui định của pháp luật.

- Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có, không xem xét.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Đặng Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003113 ngày 10 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ