- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? I. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị T.
- Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 573/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09/9/2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Quang Phong.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hiền.
2. Ông Vương Tấn Độ.
Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 414/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 04 năm 2025 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 112/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Bùi Thị T. Sinh năm 1971. Thường trú: XX xã Long Phụng (trước đây là xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức), tỉnh Quảng Ngãi. Tạm trú: XX, Khu phố 38, phường Bình Tân (trước đây là phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân), Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: ông Nguyễn Minh T1. Sinh năm 1968. Thường trú: XX, xã Mỏ Cày (trước đây là xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức), tỉnh Quảng Ngãi. Tạm trú: XX, Khu phố 38, phường Bình Tân (trước đây là phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân), Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn: theo bà Bùi Thị T thì bà và ông Nguyễn Minh T1 tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 186, quyển 2, do Ủy ban nhân dân xã Mỏ Cày (trước đây là xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức) tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 21 tháng 10 năm 1991.
Quá trình chung sống càng về sau càng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm. Hai bên đã cố gắng khắc phục nhưng không có kết quả. Nay nhận thấy mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, tình cảm đôi bên không còn nên bà Bùi Thị T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Minh T1.
Về con chung: có 03 con chung tên Nguyễn Minh T2, sinh năm 1991, Nguyễn Bùi Dạ H, sinh năm 1993 và Nguyễn Bùi Mỹ L, sinh năm 1997, đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: không có.
* Bị đơn: ông Nguyễn Minh T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải ngày 09/5/2025 nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tòa án đã thu thập chứng cứ:
Theo văn bản tham khảo ý kiến của Ủy ban nhân dân phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 24/6/2025, thì Ủy ban nhân dân phường không có thông tin về quan hệ vợ chồng bà Bùi Thị T, ông Nguyễn Minh T1.
Theo xác minh của Công an phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Nguyễn Minh T1 thực tế cư trú tại XX, Khu phố 38, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa:
Bà Bùi Thị T có đơn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, xin vắng mặt tại phiên tòa. Ông Nguyễn Minh T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ các quy định của pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ quy định pháp luật về tố tụng. Vụ án đảm bảo quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử.
Về đường lối giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: xét đơn xin ly hôn của bà Bùi Thị T cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có cơ sở xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn”; bị đơn là ông Nguyễn Minh T1 có nơi cư trú tại XX, Khu phố 38, phường Bình Tân (trước đây là phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân), Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15.
Về thủ tục tố tụng: trước khi mở phiên tòa, bà Bùi Thị T có đơn xin vắng mặt, ông Nguyễn Minh T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Bùi Thị T và ông Nguyễn Minh T1.
Về nội dung: xét yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị T đối với ông Nguyễn Minh T1, qua lời trình bày của bà Bùi Thị T thì trong quá trình chung sống, vợ chồng ông bà đã phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Hai bên đã sống ly thân. Ông Nguyễn Minh T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa, không đưa ra được ý kiến của mình về việc hàn gắn quan hệ vợ chồng.
Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ vợ chồng giữa bà Bùi Thị T và ông Nguyễn Minh T1 không còn khả năng để hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị T.
Về con chung: Có 03 con chung đều đã trưởng thành, nên không xét.
Về tài sản chung và nợ chung: bà Bùi Thị T xác định không có tài sản chung và không có nợ chung, không ghi nhận được ý kiến của ông Nguyễn Minh T1, nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: bà Bùi Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp quy định của pháp luật, nên thống nhất.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15;
- Căn cứ các Điều 19, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi năm 2014,
Tuyên xử:
I. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị T.
1. Về quan hệ hôn nhân: bà Bùi Thị T được ly hôn ông Nguyễn Minh T1.
Giấy chứng nhận kết hôn số 186, quyển 2, do Ủy ban nhân dân xã Mỏ Cày (trước đây là xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức) tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 21 tháng 10 năm 1991 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Có 03 con chung đều đã trưởng thành, nên không xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: bà Bùi Thị T xác định không có tài sản chung và không có nợ chung, không ghi nhận được ý kiến của ông Nguyễn Minh T1, nên không xét.
4. Về án phí: bà Bùi Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0077056 ngày 16 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Bùi Thị T đã nộp đủ tiền án phí.
II. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND KV9-TpHCM; - THADS TpHCM; - UBND xã Mỏ Cày; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Phong |