- Tranh chấp gì? án hành chính — "Bà Lê Thị Thúy N kiện Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của bà Lê Thị Thúy N và giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Nghị định số 47/2014/NĐ-CP Quy định về bồi thường, hỗ trợ, t…; Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 241 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 571/2019/HC-PT Ngày 21 - 8 -2019 V/v: Khiếu kiện yêu cầu hủy quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Ba
Các Thẩm phán:
Ông Lê Hoàng Tấn
Ông Đặng An Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Hữu Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 152/2018/TLPT-HC ngày 19 tháng 4 năm 2018 về việc: “Khiếu kiện yêu cầu hủy quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2018/HC-ST ngày 27 tháng 02 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1550/2019/QĐ-PT ngày 26 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
* Người khởi kiện: Bà Lê Thị Thúy N, sinh năm: 1959 (vắng mặt).
Địa chỉ: số 91/5 ấp 5, xã A, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1982 (có mặt).
Địa chỉ: Số 781/A24 L, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Luật sư Trương Thị Minh T - Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn một thành viên TMT thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện t, tỉnh Long An.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trịnh Phước T - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An (có mặt).
(Văn bản ủy quyền số 1546/UBND-TB ngày 03/11/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty Trách nhiệm hữu hạn A Long An.
Địa chỉ trụ sở chính: số x Quốc lộ 1A, xã L, huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trầm Cẩm L - Giám đốc (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn M, sinh năm: 1963 (vắng mặt).
Địa chỉ: 175 L, phường x, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Bà Lê Thị Thúy N là người khởi kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Người khởi kiện bà Lê Thị Thúy N trình bày:
Vào ngày 18/01/2017, Ủy ban nhân dân huyện T (UBND huyện T) ban hành Quyết định 416/QĐ-UBND với nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do thu hồi đất của bà N để thực hiện dự án hạ tầng khu công nghiệp A. Tổng cộng số tiền bồi thường là 2.820.663.692đ. Bà N không đồng ý giá trị bồi thường vì giá trị đất chưa đúng với thực tế, chưa xem xét vị trí đất và các khoản hỗ trợ khác chưa đúng quy định của pháp luật hiện hành. Do đó, bà Lê Thị Thúy N khởi kiện yêu cầu hủy toàn bộ Quyết định 416/QĐ-UBND ngày 18/01/2017 của UBND huyện T để ban hành quyết định bồi thường theo đúng quy định pháp luật.
* Người bị kiện - Ủy ban nhân dân huyện T do ông Trịnh Phước T đại diện theo ủy quyền trình bày ý kiến như sau:
Thực hiện chủ trương thu hồi đất đề đầu tư hạ tầng khu công nghiệp A, UBND huyện T đã thực hiện các thủ tục theo quy định và thực hiện kê biên, áp giá, ban hành các quyết định bồi thường cho các hộ dân có đất và tài sản trên đất trong khu công nghiệp A. Trong quá trình ban hành các quyết định thu hồi đất và quyết định bồi thường, các hộ dân trong đó có hộ bà N đã khiếu nại và Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Long An đã tuyên hủy các quyết định bồi thường đối với 82 hộ dân trong đó có hộ bà Lê Thị Thúy N. Đến ngày 12/01/2017 Ủy ban nhân dân tỉnh Long An (UBND tỉnh Long An) ban hành Quyết định 148/QĐ-UBND về việc phê duyệt lại hệ số điều chỉnh đơn giá đất bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để giải phóng mặt bằng xây dựng khu công nghiệp A trên địa bàn xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ. Ngày 18/01/2017, UBND huyện T ban hành Quyết định số 353/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư cho từng hộ. Theo đó, UBND huyện T ban hành Quyết định 416/QĐ-UBND với nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do thu hồi đất của bà N để thực hiện dự án hạ tầng khu công nghiệp A. Tổng cộng số tiền bồi thường cho bà Lê Thị Thúy N là 2.820.663.692đ (mức cũ 2007 là 943.609.628đ), bà N đã nhận đủ số tiền bồi thường. UBND huyện T xác định đã thực hiện bồi thường đúng theo quy định pháp luật nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thúy N.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Công ty TNHH A do ông Trần Văn M đại diện theo ủy quyền có ý kiến trình bày:
Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2018/HC-ST ngày 27/02/2018 của Toà án nhân dân tỉnh Long An đã quyết định:
Căn cứ Điều 30, Điều 32 và Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 74, Điều 75, Điều 83 và Điều 86 Luật đất đai; Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thúy N về việc yêu cầu hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai của Ủy ban nhân dân huyện T.
Quyết định 416/QĐ-UBND ngày 18/01/2017 của Ủy ban nhân dân huyện T ban hành là đúng quy định pháp luật.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, thi hành án và quyền kháng cáo.
Ngày 13/3/2018 người khởi kiện bà Lê Thị Thúy N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại đơn kháng cáo và trước phiên tòa phúc thẩm hôm nay, người khởi kiện bà Lê Thị Thúy N kháng cáo toàn bộ bản án hành chính sơ thẩm, hủy toàn bộ Quyết định số 416/QĐ-UBND ngày 18/01/2017 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An.
Luật sư bảo vệ quyền lợi cho người khởi kiện vắng mặt tại phiên tòa và gửi văn bản trình bày ý kiến pháp lý của luật sư đề ngày 21.8.2019 trình bày ý kiến bảo vệ quyền lợi cho người khởi kiện: Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các ý kiến đã trình bày để chấp nhận kháng cáo của bà N, sửa Bản án sơ thẩm số 27/2018/HC-ST ngày 27/02/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo hướng hủy toàn bộ Quyết định số 416/QĐ-UBND ngày 18/01/2017 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An, yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định khác cho phù hợp với thực tế. Đề nghị Hội đồng xét xử kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Long An hủy Quyết định 418/QĐ-UBND ngày 12/01/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.
Đại diện cho người khởi kiện nêu các ý kiến có cùng nội dung với Luật sư bảo vệ quyền lợi cho người khởi kiện đã nêu ở trên và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Thúy N.
Ông Trịnh Phước T - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An là đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện T đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ngày 18/01/2017 Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 416/QĐ-UBND với nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do thu hồi đất của bà Lê Thị Thúy N để thực hiện dự án hạ tầng khu công nghiệp A. Tổng cộng số tiền bồi thường bà N là 2.820.663.692 đồng. Nhưng bà N không đồng ý giá trị bồi thường vì giá trị đất chưa đúng với thực tế, chưa xem xét các khoản hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật nên đã khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 416/QĐ-UBND ngày 18/01/2017 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An. Tòa án cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thúy N.
Xét kháng cáo của bà Lê Thị Thúy N, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về hình thức: Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An ban hành Quyết định số 416/QĐ-UBND ngày 18/01/2017 về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do thu hồi đất của bà Lê Thị Thúy N để thực hiện dự án khu công nghiệp A là đúng trình tự thủ tục và thẩm quyền theo quy định của pháp luật quy định tại khoản 2 Điều 66 và Điều 69 Luật đất đai năm 2013.
Về nội dung: Bà Lê Thị Thúy N yêu cầu xem xét giá trị quyền sử dụng đất của bà đã được bồi thường vì thấp hơn so với giá trị đất của một số cá nhân theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty định giá giá trị đất của cá nhân và một số hợp đồng chuyển nhượng đất của các hộ dân tại địa phương.
Xét thấy: Việc Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 364/QĐ-UBND ngày 18/01/2017 với nội dung bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do thu hồi đất của bà Lê Thị Thúy N để thực hiện dự án hạ tầng khu công nghiệp A là dựa trên cơ sở Quyết định số 148/QĐ-UBND ngày 12/01/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Long An về việc phê duyệt lại hệ số điều chỉnh đơn giá đất bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để giải phóng mặt bằng xây dựng khu công nghiệp trên địa bàn xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An và căn cứ Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là đúng quy định của pháp luật.
Về yêu cầu xem xét các khoản hỗ trợ khác của bà N: Ủy ban nhân dân huyện T áp dụng mức hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp 0,4 đối với hộ bà N là dựa trên cơ sở Quyết định 418/QĐ-UBND ngày 12/01/2017; Quyết định 56/QĐ-UBND ngày 13/11/2014; Quyết định 57/QĐ-UBND ngày 18/10/2016 và Quyết định 58/QĐ-UBND ngày 19/10/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Long An là hoàn toàn có lợi cho người dân nói chung và bà N nói riêng.
Về yêu cầu xem xét mua nền ưu đãi của bà N: Bà N đã được Ủy ban nhân dân huyện T hỗ trợ 10.000.000 đồng di dời và mức tiền tái định cư là 177.220.000 đồng. Theo Quyết định 56/QĐ-UBND ngày 13/11/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Long An có hiệu lực thì vấn đề nền ưu đãi cho đất nông nghiệp không còn được triển khai nên việc Ủy ban nhân dân huyện T không giải quyết nền ưu đãi cho đất nông nghiệp của hộ bà N là đúng.
Từ các căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét việc Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thúy N là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại đơn kháng cáo và trước phiên tòa phúc thẩm hôm nay bà N không xuất trình được chứng cứ mới nên không có cơ sở để chấp nhận, nên giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm.
Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bà Lê Thị Thúy N phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính.
Bác kháng cáo của bà Lê Thị Thúy N và giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm.
Căn cứ Điều 30, Điều 32 và Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 74, Điều 75 và Điều 83 Luật Đất đai.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thúy N về việc yêu cầu hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai của Ủy ban nhân dân huyện Tân Trụ.
Quyết định số 416/QĐ-UBND ngày 18/01/2017 của Ủy ban nhân dân huyện T ban hành là đúng quy định pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí hành chính phúc thẩm bà Lê Thị Thúy N phải nộp 200.000 đồng được khấu trừ vào số tiền 200.000 đồng bà N đã nộp tại biên lai thu số 0001214 ngày 13/03/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: Tòa án nhân dân tối cao (1); VKSNDCC tại thành phố Hồ Chí Minh (1); TAND tỉnh Long An(1); VKSND tỉnh Long An (1); Cục THADS tỉnh Long An (1); Các đương sự (7); Lưu: hồ sơ (1),VP(3),16b (ĐTT). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Ba |