- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Thị Đ phạm tội:“Vận chuyển trái phép chất ma tuý” - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nh một ph n hình phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 570/2021/HS-PT Ngày 17 tháng 11 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Lực;
Các Thẩm phán:
Ông Hoàng Văn Hạnh;
Ông Mai Anh Tài.
Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông
Vũ Đức Minh, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 17 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm, công khai, vụ án hình sự thụ lý số 541/TLPT-HS ngày 28 tháng 06 năm 2021, đối với bị cáo Lương Thị Đ. Do có kháng cáo của bị cáo, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2021/HSST ngày 26 tháng 04 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
1. Bị cáo có kháng cáo: Lương Thị Đ, sinh năm 1976, tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: 2/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn V và con bà La Thị P; chồng: Kha Hải T; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2020 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; Có mặt.
2. Người bào chữa cho bị cáo: ông Hoàng Tuấn Anh, bà Mai Thị Nha Trang, ông Nguyễn Minh Cường, Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Gia Anh - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 13 giờ, ngày 15/9/2020, T công tác Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 - Bộ tư lệnh Cảnh sát iển đang làm nhiệm vụ, nhận đư c tin áo của qu n chúng với nội dung: Có một phụ nữ khoảng tr n 40 tu i mặc áo chống n ng màu hồng, qu n màu anh ám, đeo khẩu trang màu t m, có hành vi vận chuyển trái ph p chất ma túy tr n e giường n m của nhà e M - màu đ đang lưu thông hướng Nghệ An đi Hà Nội, hiện e đang đi tr n địa àn huyện T, tỉnh Thanh Hóa. T công tác đ cơ động về thành phố T, phối h p với Công an phường S, thành phố T, để đón e khách chở người phụ nữ như tin áo. hoảng 14 giờ ngày 15/9/2020, t công tác phát hiện e khách của nhà e M - màu đ chạy đến khu vực đền Dâu, thuộc phường S, thành phố T, tỉnh Ninh Bình, dừng e trả khách, đ phát hiện một phụ nữ khoảng tr n 40 tu i mặc áo chống n ng màu hồng, qu n màu anh ám, đeo khẩu trang màu t m, một tay ách theo 01 túi du lịch màu anh, một tay ách 01 ao nilon ác r n màu tr ng đi cùng một người nam giới khoảng 50 tu i, uống e đi tr n vỉa h đư c vài ước chân thì người phụ nữ đưa túi du lịch màu anh cho người nam giới ách. T công tác y u c u kiểm tra ao nilon ác r n màu tr ng của người phụ nữ tr n. ết quả kiểm tra trong ao nilon ác r n màu tr ng có 01 thùng cát tông màu nâu k ch thước 38 30 25 cm, tr n mặt thùng ghi chữ Công ty c ph n thực phẩm Việt Nam màu anh và dòng chữ nước ngoài màu đ . Trong thùng cát tông có chứa 05 gói nilon màu anh có k nh thước 16 17 7 cm, n ngoài gói ng nilon màu tr ng, tr n mặt gói có 05 ngôi sao màu đ và dòng chữ nước ngoài màu đen; 05 gói nilon màu vàng có k ch thước 16 15 7 cm, gói ngoài ng lớp nilon màu tr ng, tr n mặt gói có 05 ngôi sao màu đ và dòng chữ nước ngoài màu đen. Người phụ nữ khai t n là Lương Thị Đ; Người đàn ông đi cùng là ha Hải T chồng của chị Đ; cả 02 cùng trú tại: Bản C,
C, huyện K, tỉnh Nghệ An và khai nhận 10 gói nilon màu anh và màu vàng đựng trong thùng cát tông là ma túy của Đ nhận vận chuyển thu cho một người đàn ông người Lào khoảng 50 tu i, không iết t n, địa chỉ với giá 5.000.000 đồng. T công tác đ ni m phong toàn ộ 10 gói vật chứng tr n vào thùng cát tông an đ u, đựng trong ao nilon ác r n màu tr ng đựng trong một thùng cát tông khác màu nâu có k ch thước 57 47 27 cm, ni m phong theo đúng quy định trước sự chứng kiến và chữ ký ác nhận vào m p dán ni m phong của người có li n quan, người làm chứng và điểm chỉ của Lương Thị Đ. Ngoài ra còn thu giữ của Lương Thị Đ 01 điện thoại di động, 01 chứng minh nhân dân, 01 th ảo hiểm y tế, 01 túi du lịch màu anh ghi chữ Adidas. T công tác đưa Lương Thị Đ cùng toàn ộ vật chứng, người có quyền l i ngh a vụ li n quan, người làm chứng và người chứng kiến về trụ sở Công an phường S, thành phố T, tỉnh Ninh Bình lập i n ản t người phạm tội quả tang. Quá trình kiểm tra, t giữ Lương Thị Đ, T công tác có sử dụng điện thoại di động cá nhân ghi lại hình ảnh có âm thanh toàn ộ quá trình kiểm tra thu giữ và ni m phong vật chứng; sau đó sao lưu hình ảnh, có âm thanh từ điện thoại di động ra USB Datatraveler 104 và ni m phong theo quy định. Ngày 16/9/2020, Đoàn đặc nhiệm phòng chống ma túy số 1 - Bộ tư lệnh cảnh sát iển àn giao toàn ộ hồ sơ tài liệu an đ u, đối tư ng, người có quyền l i ngh a vụ li n quan, vật chứng cùng các đồ vật thu giữ cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình để điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Công an tỉnh Ninh Bình tiến hành khám t khẩn cấp đối với ch ở của Lương Thị Đ, kết quả không phát hiện và thu giữ đồ vật gì.
Quá trình điều tra Lương Thị Đ khai nhận: hoảng 04 đến 05 giờ sáng ngày 14/9/2020, Đingủ dậy, thấy một người đàn ông lạ đang đi đi lại lại trước cửa nhà, qua nói chuyện iết anh ta là người Lào. hi vào trong nhà Đ nói chuyện, người Lào đ chủ động đặt vấn đề nhờ Đ vận chuyển ma túy ra Hà Nội và hứa trả công 5.000.000 đồng; Đ đồng ý, sau đó anh ta không nói gì nữa rồi ra về. Đến khoảng 04 giờ sáng ngày 15/9/2020, Đ ngủ dậy mở cửa đi tìm nhà e ra Hà Nội khám ệnh, thì thấy người Lào hôm trước đứng trước cửa nhà, anh ta h i Đ đi đâu; Đ nói đi tìm xe HD ra Hà Nội khám ệnh; anh ta ảo đ i khoảng 45 phút; Đ hiểu ý anh ta ảo đ i để anh ta mang ma túy đến cho Đ vận chuyển đi Hà Nội. Đ sử dụng e máy của gia đình đi đến nhà e HD để li n hệ e nhưng không thấy ai tr n e, nhìn thấy số điện thoại của nhà e ghi ph a đuôi e đ ấm số điện thoại này vào máy điện thoại của mình rồi đi về nhà gọi điện cho anh Tr n Ngọc T, sinh năm 1981, trú tại: Bản C, C, huyện K, tỉnh Nghệ An, là lái e của nhà e HD h n khoảng 15 phút sau đón Đ trước cửa nhà g n 02 cây ăng Lý Ch nh và Bình Hòa . Trong khi chờ đ i, Đ chuẩn ị qu n áo cùng giấy tờ li n quan đến việc khám chữa ệnh vào một chiếc túi du lịch màu anh, rồi gọi chồng Đ là anh ha Hải T dạy để cùng Đ đi khám ệnh ở Hà Nội. hoảng 04 giờ 30 phút e ô tô khách HD đến trước cửa nhà Đ và gọi điện ảo Đ ra xe. Đ ách túi du lịch màu anh ra e trước còn anh T mặc qu n áo ra sau. hi Đ vừa ước l n cửa e thì thấy người Lào đang ngồi ở hàng ghế thứ hai ngay cửa l n uống, lúc này tr n e không có người khách nào khác. Thấy Đ l n e, anh ta ảo Hàng để giữa e in và e Dream đang dựng trước cửa nhà Đ ; Đ uống e thấy một ao ác r n màu tr ng đang để giữa 02 e máy, Đ iết n trong có ma túy, liền ách l n e để g n hộp nhựa màu đ loại hộp hay dùng đựng nước uống của nhà e . Người Lào ảo Đ đưa điện thoại cho anh ta ấm số điện thoại của người nhận hàng vào máy điện thoại của Đ và ảo Đ Qua h m chui thuộc địa phận thành phố T, tỉnh Ninh Bình uống e gọi điện cho người nhận ma túy và người đó trả tiền công cho Đ. Đ c m điện thoại nhìn thoáng qua chỉ nhớ số điện thoại người Lào ấm vào máy của Đ có số cuối cùng là số 4 rồi điện thoại vào túi ách, quay uống gọi anh T lên xe. Đ lên xe ngồi ở ghế phụ, còn anh T ngồi ghế cuối e. Đến khoảng 08 giờ 45 phút thì e đi đến địa phận óm 5,
Đ, huyện L, tỉnh Nghệ An, thì anh Tú - lái e ảo Ai đi Hà Nội thì uống e để chuyển sang e giường n m của nhà e M . hi chuyển từ e HD sang xe M, thì Đ uống trước còn anh T đi theo sau; Đ ách ao ì ác r n màu tr ng n trong đựng ma túy mang đến ch cốp e của nhà e M đưa cho phụ e vào cốp e; sau đó Đ l n e n m ở hàng ghế thứ 03 t ng 01, còn anh T n m ghế thứ 05 t ng 02. hi vừa l n e thì anh Nguyễn Tr n Nhật Pháp là phụ e h i Đ Đi đến đâu , Đ ảo Cho uống ch qua đường h m chui , anh Pháp h i lại Có phải h m chui T không , Đ trả lời Vâng . hoảng 14 giờ, e đi qua khu vực h m chui T, Ninh Bình, thì anh L Hồng S - cũng là phụ e gọi Ai qua h m chui thì uống ; Đ gọi anh T dạy để uống e. hi e dừng trước cửa đền Dâu, thuộc t 15, phường S, thành phố T, tỉnh Ninh Bình, phụ e h i Đ và anh T Có đồ gì không , Đ trả lời Có, đồ để trong cốp e . Đ ách theo túi du lịch màu anh uống trước đi đến cốp e lấy ao ì màu tr ng đựng ma túy do phụ e lấy trong cốp ra để uống đất, tay trái Đ ách túi du lịch màu anh, tay phải ách ao ì ác r n màu tr ng đựng ma túy; còn anh T uống sau cùng Đ đi ộ tr n vỉa h đư c vài ước thì Đ đưa túi du lịch màu anh cho anh T ách và lấy điện thoại di động ra gọi cho người nhận ma túy nhưng chỉ nghe tiếng Tút, tút không có người nghe máy; ngay lúc đó T công tác đến y u c u kiểm tra, phát hiện t quả tang thu giữ toàn ộ số ma túy n u tr n.
Tiến hành mở ni m phong thùng catton màu nâu k ch thước 57 47 27 cm n trong có một thùng cát tông màu nâu k ch thước 38 30 25 cm, trong thùng có 01 ao ì màu tr ng và 10 gói, trong đó: 05 gói đư c gói ngoài ng nilon màu tr ng tiếp đến nilon màu vàng k ch thước 16 15 7 cm; 04 gói đư c gói ngoài ng nilon màu tr ng tiếp đến là lớp nilon màu anh k ch thước 16 17 7 cm; 01 gói đư c gói ngoài ng nilon màu anh k ch thước 16 17 7 cm; Tr n mặt cả 10 gói đều có 05 ngôi sao màu đ và dòng chữ nước ngoài màu đen.
Tại ản kết luận giám định số 254/ LGĐ-PC09-MT ngày 23/9/2020 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận:
ng h ượng ch t d ng t nh th màu t ắng t ong 0 ư g n on thu g của ương h
à 9988,5
h n ngh n ch n t ăm tám mươ tám hảy năm mươ m t gam
ng kh ượng ch t d ng tinh th màu trắng trong các mẫu gử g ám đ nh ký hiệu từ
đến 0 à 583,74 Năm t ăm tám mươ ba hẩy bảy mươ tư gam
ác mẫu ch t d ng t nh th màu t ắng gử g ám đ nh t ong các t n on h ệu từ đến 0 đ u à ma t y o
etham hetam ne etham hetam ne à ch t ma t y thuộc bảng anh mục , s th t 323; Ngh đ nh s 73 20 8 N -
ngày 5 5 20 8 của h nh hủ
ng kh ượng ch t d ng tinh th màu trắng hoàn trả trong các mẫu gử g ám đ nh ký hiệu từ
đến 0 à 570,2526 Năm t ăm bảy mươ hẩy ha mươ ăm ha mươ sáu gam ”
- Ngày 12/11/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đ ra Quyết định trưng c u giám định số 38/CSMT, trưng c u Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình giám định hình ảnh, âm thanh đối với USB ghi lại quá trình kiểm tra, thu giữ ni m phong vật chứng của Lương Thị Đ.
Tại ản kết luận giám định số 154/ LGĐ-PC09- TS-ĐT ngày 27/11/2020 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận: hông phát hiện dấu vết c t gh p, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 03 tệp tin Video lưu trữ trong USB gửi giám định.
Căn cứ lời khai của Lương Thị Đ, ngày 17/9/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đ tiến hành rà soát các Camera tại khu vực ung quanh nơi ở của Lương Thị Đ tại ản C, C, huyện K, tỉnh Nghệ An. ết quả ác định: Xung quanh nơi ở của Lương Thị Đ có 02 cây ăng l p Camera là Cây ăng Bình Hòa cạnh nhà Đ và Cây ăng Lý Ch nh đối diện nhà Đ , cụ thể là:
- Cây ăng Bình Hòa có 05 m t camera hoạt động thể hiện hình ảnh khu vực đ ăng, nhà ở và nhà e của gia đình; 01 m t quay về hướng nhà Đ nhưng ị h ng không em đư c hình ảnh tr n đ u thu.
- Cây ăng Lý Ch nh có 05 m t camera đều hoạt động ình thường, trong đó m t số 05 quay sang hướng nhà Đ còn 04 m t quay vào khu vực án ăng và nhà ở của gia đình. Xem t m t camera số 05 ác định từ 03 giờ 00 phút đến 06 giờ 00 phút ngày 15/9/2020, kết quả: 03 giờ 55 phút có một e ô tô ật đ n pha, i nhan dừng trước cửa nhà Đ 03 phút; do trời tối không ác định đư c loại ô tô gì, B S thế nào và các đặc điểm khác của ô tô, không thấy ai l n uống e vào thời điểm tr n. iểm tra từ 03 giờ đến 06 giờ ngày 14/9/2020 không phát hiện đư c gì. iểm tra thời gian tr n Camera ác định: Thời gian hiển thị tr n màn hình Camera chạy chậm hơn so với giờ thực tế 35 phút. Sau khi kiểm tra tiến hành sao tr ch Video m t camera số 05 làm 02 ph n vào 02 USB và ni m phong theo quy định.
Ngày 04/10/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành rà soát các camera khu vực óm 5, Đ, huyện L, tỉnh Nghệ An Nơi ị cáo Đ chuyển từ e HD sang e Giường N m M . ết quả rà soát Quốc lộ 7 thuộc óm 5 Đ, huyện L, tỉnh Nghệ An và các óm lân cận g n đó, ác định: hông có hộ gia đình nào l p Camera; tr n tuyến đường cũng không có Camera an ninh để theo d i.
Ngày 16/9/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành rà soát Camera an ninh của thành phố T cách vị tr ảy ra vụ án 30 m, đ tr ch uất sao lưu dữ liệu Video tr n hệ thống Camera an ninh do Công an thành phố T quản lý vào 01 USB nh n hiệu kingston 16GB màu đen, dung lư ng 231MB, thời gian quay 07 phút, t đ u từ 13 giờ 02 phút đến 13 giờ 09 phút ngày 15/9/2020 đư c lưu t n CH Đ N DÂU . Tại thời điểm sao tr ch Video phát hiện thời gian hiển thị tr n hệ thống ị sai so với thực tế là nhanh hơn 60 phút do l i hệ thống chưa cài đặt thời gian. Sau khi sao tr ch Video đ ni m phong theo quy định của pháp luật. Tại Cơ quan điều tra với sự tham gia của Lương Thị Đ, ha Hải T và người chứng kiến đ kiểm tra nội dung Video tr n, ác định: Xe giường n m màu đ có chữ M ở tr n k nh trước đ u e ch nh là e ôtô mà Lương Thị Đ và ha Hải T đi từ huyện L, tỉnh Nghệ An đến thành phố T, tỉnh Ninh Bình thì uống e. hi ô tô dừng lại thì Đ uống trước ách ao nilon ác r n màu tr ng, đưa túi du lịch màu anh cho T c m. Người đàn ông đội mũ cối màu anh, mặc áo dài tay màu tr ng, qu n aki màu sáng, tay phải ách túi du lịch màu anh ch nh là ha Hải T. Người phụ nữ mặc áo dài tay màu hồng có mũ đội tr n đ u, mặc qu n màu đen, tay phải ách ao nilon ác r n màu tr ng là Lương Thị Đ. Hai người tiếp tục ách đồ đi đến gốc cây thì ị lực lư ng Cảnh sát iển phối h p với Công an phường S, thành phố T kiểm tra, t giữ. Cơ quan điều tra đ trưng c u Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình giám định nội dung hình ảnh trong Video có ị c t gh p, chỉnh sửa không.
Tại ản ết luận giám định số 133/ LGĐ-PC09- TS ĐT ngày 04/11/2020 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận: hông phát hiện dấu vết c t gh p, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp tin Video lưu trong USB gửi giám định.
Căn cứ kết quả kiểm tra điện thoại di động thu giữ của Lương Thị Đ không có số điện thoại có số cuối 4 như Đ khai, n n ngày 05/10/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình ra Lệnh thu giữ điện t n của Lương Thị Đ về chi tiết các cuộc gọi đi, gọi đến, tin nh n của số thu ao 0363463383 của Đ thời gian từ 00 giờ đến 15 giờ ngày 15/9/2020. ết quả rút List điện thoại ác định: hông có số điện thoại có số cuối 4 như ị cáo Đ khai do người Lào ấm vào máy điện thoại của Đ để khi đi qua h m chui địa àn thành phố T, tỉnh Ninh Bình, uống e gọi cho người đến nhận ma túy và thanh toán tiền công cho Đ.
Ngày 09/12/2020 cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình ra quyết định trưng c u Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình: Phục hồi, tr ch uất dữ liệu cuộc gọi, tin nh n SMS trong máy điện thoại và trong th sim thu giữ của Lương Thị Đ, trong thời gian từ 00 giờ 00 phút ngày 15/9/2020 đến 15 giờ 00 phút ngày 15/9/2020. Tại ản kết luận giám định số 102/ LGĐ - PC09- TS ĐT ngày 11/01/2021, kết luận: Tìm thấy 07 dữ liệu cuộc gọi, không tìm thấy dữ liệu tin nh n SMS lưu trong máy điện thoại trong thời gian từ 00 giờ 00 phút ngày 15/9/2020 đến 15 giờ 00 phút ngày 15/9/2020 Chi tiết dữ liệu đư c thể hiện trong phụ lục gửi k m . hông tìm thấy dữ liệu cuộc gọi, tin nh n SMS lưu trong th sim trong thời gian từ 00 giờ 00 phút ngày 15/9/2020 đến 15 giờ 00 phút ngày 15/9/2020.
Căn cứ chi tiết dữ liệu thể hiện trong phụ lục, ác định: hông có số điện thoại nào có số cuối 4 như Lương Thị Đ đ khai.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2021/HSST ngày 26 tháng 04 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, đ quyết định: Căn cứ điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 40 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Thị Đ: Tử hình, về tội: Vận chuyển trái phép chất ma tuý . Phạt tiền b sung 30.000.000đ a mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, ử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/4/2021, bị cáo Lương Thị Đ kháng cáo xin giảm nh hình phạt.
T i phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Lương Thị Đ giữ nguyên nội dung kháng cáo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình như ản án sơ thẩm đ quy kết không oan, đúng người, đúng tội. Do nhận thức chưa đ y đủ, nay thấy hối hận việc làm của mình, ăn năn hối cải, trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, con nh , bản thân không hiểu biết pháp luật, là người dân tộc thiểu số, gia đình có công với cách mạng... Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt cho bị cáo, để có cơ hội sửa chữa l i l m của mình.
Các Luật sư ào chữa cho bị cáo có quan điểm: Việc bị cáo Lương Thị Đ bị xử phạt về tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự là đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình ị cáo rất khó khăn, là lao động chính, con còn nh ; bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ; bố bị cáo là thương inh hạng 4/4; có Thành t ch cá nhân trong đấu tranh phòng chống tội phạm đư c Đồn biên phòng Nậm Càn - Bộ đội biên phòng tỉnh Nghệ An cấp Giấy xác nhận nên c n áp dụng các điểm m, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, Lương Thị Đ tiếp tục thành khẩn nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo xuống mức thấp nhất, để bị cáo có thời gian cải tạo, sớm trở về với gia đình và hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân t ch, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nh , quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và căn cứ kháng cáo của bị cáo, kết luận: bị cáo Lương Thị Đ bị xử phạt về tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan; mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt: Tử hình đối với bị cáo là phù h p. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không đư c hưởng thêm tình tiết giảm nh mới, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với Lương Thị Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
ên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa. Hộ đồng xét xử nhận đ nh như sau:
. V hành vi, quyết đ nh t tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo của bị cáo gửi trong thời hạn luật định, đư c xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư cho r ng một số biên bản lấy lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra không có Luật sư là vi phạm thủ tục tố tụng, xét thấy, Lương Thị Đ bị b t quả tang khi đang vận chuyển trái phép chất ma túy, cơ quan chức năng lập biên bản thu giữ vật chứng, lấy lời khai an đ u Đ ch thừa nhận hành vi phạm tội của mình, các biên bản lấy lời khai của Đ ch tại Cơ quan điều tra đều nhận tội, phù h p với biên bản phạm pháp quả tang, kết luận giám định và phù h p sự thật khách quan vụ án, vì vậy, quan điểm của Luật sư không đư c chấp nhận.
. V hành vi ph m tội của b cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lương Thị Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình như ản án sơ thẩm đ quy kết là đúng pháp luật, không oan. Lời khai nhận của bị cáo phù h p với lời khai tại Cơ quan điều tra và tại phi n tòa sơ thẩm, phù h p với lời khai của người có quyền l i, ngh a vụ li n quan đến vụ án, người làm chứng, Biên bản b t người phạm tội quả tang của Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 01- Bộ tư lệnh Cảnh sát biển lập ngày 15/9/2020; Biên bản ni m phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản cân ác định khối lư ng vật chứng thu giữ; Kết luận giám định số 254/ LGĐ-PC09-MT ngày 23/9/2020 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, phù h p với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đ ch cho r ng, nếu biết khối lư ng vận chuyển ma túy nhiều như i n ản b t quả tang thì Đ ch sẽ không vận chuyển, tuy nhi n, căn cứ Đ ch đưa ra là không có cơ sở, vì ngay từ an đ u Đ ch trực tiếp nhiều l n xách bao ma túy nên xuống xe ô tô, biết và cảm nhận rõ khối lư ng, trực tiếp ách ao ma túy để mang giao cho đối tư ng khác thì bị b t quả tang. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất và đồng tình với kết luận của Tòa án cấp sơ thẩm về hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Sáng ngày 15/9/2020, Lương Thị Đ đi e ôtô khách từ ản C, C, huyện K, tỉnh Nghệ An mang theo ma túy ra thành phố T, tỉnh Ninh Bình. hoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, Lương Thị Đ xuống xe tại khu vực Đền Dâu, thuộc t 15, phường S, thành phố T, tỉnh Ninh Bình khi chưa kịp gọi điện thoại cho người đến nhận ma túy thì ị T công tác- Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1
- Bộ tư lệnh Cảnh sát iển phối h p với Công an phường S, thành phố T, tỉnh Ninh Bình phát hiện t quả tang thu giữ t ng khối lư ng là 9988,51gam ma túy là Methamphetamine. Hành vi nêu trên của bị cáo Lương Thị Đ đ cấu thành tội: Vận chuyển trái phép chất ma tuý , vi phạm tình tiết định khung: Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lư ng 100 gam trở l n theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt bị cáo Lương Thị Đ theo tội danh, điểm, khoản, điều luật của Bộ luật Hình sự n u tr n là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với quan điểm Luật sư đề nghị c n áp dụng Thông tư li n tịch số: 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - Tòa án nhân dân Tối cao - Bộ Tư pháp c n trưng c u giám định hàm lư ng để ác định trọng lư ng chất ma túy là không có cơ sở, không đư c Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Tính ch t hành vi ph m tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, chỉ vì hám l i về vật chất, bất chấp quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, chất gây nghiện; góp ph n gây ra tệ nạn ma túy, làm hủy hại cho sức kh e của người sử dụng, gây tác hại tiêu cực về nhiều mặt trong đời sống xã hội, còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và hình phạt đối với hành vi phạm tội về ma túy là rất nghiêm kh c, nhưng do vụ l i n n đ tham gia vận chuyển ma túy có khối lư ng đặc biệt lớn là 9988,51 gam Methamphetamine, mục đ ch để đư c nhận số tiền công vận chuyển. Do đó, cấp phúc thẩm đồng tình phải có mức hình phạt thật nghiêm kh c đối với bị cáo, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đối với loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm này trong tình hình hiện nay, để có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Mặc dù, sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, gia đình ị cáo có bố đ là người có công với cách mạng, là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh gia đình khó khăn, không iết chữ. Tòa án cấp sơ thẩm đ áp dụng đ y đủ tình tiết tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nh một ph n hình phạt cho bị cáo. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không áp tình tiết giảm nh : Thành t ch cá nhân trong đấu tranh phòng chống tội phạm, phạm tội do lạc hậu là có căn cứ, đúng pháp luật. Với khối lư ng ma túy vận chuyển đặc biệt lớn, trong khi tình hình tội phạm về ma túy diễn biến phức tạp, việc mua bán, vận chuyển ma túy hết sức tinh vi, diễn ra liên tỉnh. Tr n cơ sở đánh giá khách quan, đ y đủ các chứng cứ của vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đ em t đúng tính chất, hành vi, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhân thân, tình tiết giảm nh , tình hình đấu tranh phòng chống với loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm này, xử phạt bị cáo Lương Thị Đ với mức án Tử hình là phù h p.
. Xét kháng cáo của b cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải, trình bày không hiểu biết pháp luật; gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, con còn nh , là lao động ch nh trong gia đình; ố có công với cách mạng, là người dân tộc thiểu số... Xét thấy, những tiết giảm nh mà bị cáo đưa ra đ đư c cấp sơ thẩm xem xét áp dụng. Ngoài tình tiết giảm nh đ áp dụng, bị cáo không đư c hưởng thêm tình tiết giảm nh đặc biệt mới nào khác, để có thể xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo. Mặt khác, như đ n u tr n, khối lư ng ma túy mà bị cáo vận chuyển đặc biệt lớn, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là th a đáng. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nh hình phạt của bị cáo, c n giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Vì vậy, quan điểm của Luật sư ào chữa cho bị cáo, đề nghị chấp nhận kháng cáo và giảm nh hình phạt cho bị cáo là không có cơ sở, không đư c cấp phúc thẩm chấp nhận.
. Quan đ m đ i diện Viện ki m sát nhân dân c p cao t i Hà Nội: Xét thấy, các căn cứ và lập luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở và đư c chấp nhận.
. V hành v các đ tượng có liên quan: Đối với ha Hải T là người đi cùng Lương Thị Đ, kết quả điều tra không ác định đư c ha Hải T có li n quan đến hành vi vận chuyển trái ph p chất ma túy của Lương Thị Đ, n n Cơ quan điều tra không đủ căn cứ ử lý là có căn cứ; Người đàn ông Quốc tịch Lào thu Đ vận chuyển ma túy theo lời khai của Đ, Cơ quan điều tra đ tiến hành ác minh tại Công an C, huyện K, tỉnh Nghệ An và các lân cận, ác minh việc đăng ký tạm trú, tạm v ng, những người từ nơi khác đến trong thời gian trước, trong và sau khi Lương Thị Đ ị t, nhưng không có đối tư ng nào có đặc điểm như Đ khai áo, do vậy cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm r là có căn cứ; Đối với người có số điện thoại cuối cùng là số 4 , theo lời khai của Đ là số điện thoại người Lào ấm vào máy của Đ để khi đi qua h m chui thuộc địa àn thành phố T, tỉnh Ninh Bình uống e gọi cho họ đến nhận ma túy và thanh toán tiền công. Cơ quan điều tra đ tiến hành kiểm tra điện thoại, rút list số điện thoại của Đ li n lạc, giám định điện thoại và sim mang số thu ao 03633463383 thu giữ của Đ, nhưng kết quả ác định không có số điện thoại nào có số cuối cùng là số 4 như Đ khai, vì vậy, cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra ác minh làm r là có căn cứ.
. V án phí: Bị cáo kháng cáo không đư c chấp nhận, phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Thị Đ.
2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm 06/2021/HSST ngày 26 tháng 04 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
Căn cứ điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 40 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lương Thị Đ: Tử hình, về tội: Vận chuyển trái phép chất ma tuý .
Phạt b sung bị cáo Lương Thị Đ số tiền 30.000.000đ a mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí: Bị cáo Lương Thị Đ phải nộp 200.000đ hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày T án.
Trong thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày T án, bị cáo Lương Thị Đ có quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ ngh a Việt Nam xin ân giảm án tử hình.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - V SNDCC tại Hà Nội; - Vụ 1 TANDTC; - TAND tỉnh Ninh Bình ; - Công an ; - Cục THADS tỉnh Ninh Bình ; - Trại tạm giam – CA tỉnh Ninh Bình; - Bị cáo Đ ch qua Trại tạm giam ; - Lưu HS, HCTP. | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa ( ã ký) Đặng Đình Lực |