vanban.org

Bản án 57

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Hình sự - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57./2023/HS-ST
Ngày 21 tháng 3 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Đấu – Bà Đặng Thị Hải Yến

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Mạnh – Thư ký TAND TP Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Đậu Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2023/TLST-HS ngày 28/02/2023. Tại điểm cầu trung tâm: Phòng xử án trực tuyến Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh; điểm cầu thành phần: Phòng xử án trực tuyến Trại tạm giam công an Nghệ An theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị Thùy L - sinh ngày 03/12/1970. Nơi ĐKNKTT: khối 5, phường Quang T, TP Vinh, tỉnh Nghệ An, nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; con ông: Trần Văn L và bà Nguyễn Thị Kim O. Chồng là Nguyễn Đức T (đã ly hôn), Con: có 02 con lớn sinh năm 1994 nhỏ sinh năm 1996, Anh chị em ruột có 03 người bị cáo là cón thứ nhất trong gia đình.

Tiền án: Ngày 24/11/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 30/7/2022.

Nhân thân: Ngày 03/9/2009, bị công an phường Lê Mao, thành phố Vinh xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2023 cho đến nay – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 03/01/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá, Trần Thị Thùy L đi lên khu vực cầu Đước thuộc phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, L gặp một người đàn ông không quen biết đi xe máy lai hỏi mua ma túy thì người này đồng ý. L đưa cho người đàn ông này 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Khoảng 10 phút sau, người đàn ông đó quay lại đưa cho L một gói ma túy, L cất dấu trong túi áo khoác màu đen bên phải và đi về. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi L đi về đến đường Lý Nhật Quang, trước nhà nghỉ Tuyết Nhi thuộc khối 8, phường Bến Thủy, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thì bị Đội Cảnh sát giao thông trật tự công an Thành phố Vinh kiểm tra, phát hiện, thu giữ trong túi áo khoác màu đen bên phải L đang mặc 01 ( một) gói ni lông màu hồng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Người cùng tang vật được đưa về trụ sở công an thành phố Vinh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày số 03/01/2023 và Kết luận giám định số 86/KL-KTHS(Đ2 – MT) ngày 09/01/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Thị Thùy L gửi đến giám định là ma túy (Methamphetamine). Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Thị Thùy L có khối lượng 0,470 gam."

Tại bản cáo trạng số 68/VKS-HS ngày 25/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Thị Thùy L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị Thùy L từ 18 – 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Khối lượng ma túy (Methamphetamine) thu giữ của bị cáo là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mà không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

2.1. Xét hành vi phạm tội: Xét lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ,được tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 03 tháng 01 năm 2023, tại khu vực trước nhà nghỉ Tuyết Nhi, đường Lý Nhật Quang thuộc khối 8, phường Bến Thủy, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Trần Thị Thùy L có hành vi tàng trữ trái phép 0,470g (Không phẩy bốn trăm bảy mươi gam) ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác đội Cảnh sát giao thông trật tự công an thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

2.2. Xét tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi cất dấu ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm là tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy cần xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên xử phạt bị cáo trong khung hình phạt như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

2.3 Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này ngoài hình phạt chính còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định và không có tài sản nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

2.4. Về vật chứng: Khối lượng ma túy (Methamphetamine) thu giữ của bị cáo là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo nhưng bị cáo không biết rõ lai lịch, địa chỉ. Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ và sẽ xử lý sau.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị Thùy L 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03/01/2023.

Căn cứ điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong có chứa ma túy (Methamphetamine) vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK2023/102 ngày 10/3/2023.

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Thị Thùy L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ các điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ