vanban.org

Bản án 57/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 27/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T "Vận chuyển hàng cấm" - tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2026/HS-ST
Ngày 27-5-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thái.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.

Ông Phạm Văn Ven.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phát - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2026 tại Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2026/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2026/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1988 tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú: thôn I, xã H, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966 và bà Hồ Thị T2, sinh năm 1966; Vợ: Lê Định T3, sinh năm 1987; Con: có 02 người con (sinh năm 2012, 2024); Tiền án: không; Tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 30/11/2022 bị Công an xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Đã nộp tiền phạt ngày 02/12/2022.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/07/2025 đến ngày 18/7/2025 bị tạm giam cho đến nay.

(Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Trần Thị M, sinh năm 1950.

Địa chỉ: ấp B, xã L, tỉnh Cà Mau.

(Vắng mặt).

- Ông Trần Văn C, sinh năm 1973 và bà Từ Ngọc P, sinh năm 1973.

Cùng địa chỉ (cũ): số E đường số E, phường A, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1992.

Địa chỉ: ấp M, xã B, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Minh T5, sinh năm 1989 (Theo giấy ủy quyền được Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Tây Ninh chứng thực số 79 quyển số 1-SCT/GD ngày 26/5/2026).

(Ông Nguyễn Minh T5 có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 10/7/2025, Nguyễn Văn T nhận được cuộc điện thoại từ số điện thoại 0329368832 của một người đàn ông tên K (không xác định được nhân thân, lai lịch). Qua trò chuyện, K thuê T điều khiển xe ô tô tải vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu từ xã B, tỉnh Tây Ninh đi khu vực quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (cũ) để giao, giá tiền công là 3.500.000 đồng/chuyến sau khi đã vận chuyển xong. T đồng ý.

Khoảng 20 giờ cùng ngày, K1 điện thoại yêu cầu T đi đến khu vực gần Cửa hàng K2 tại Ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh để nhận xe ô tô tải biển số 51D-395.40 và điều khiển xe này đến khu vực biên giới, gần cột mốc 198, tại ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh đợi. Khoảng 01 giờ 15 phút ngày 11/7/2025, thì có 04 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển 04 xe mô tô không xác định được biển số chở 45.000 bao thuốc lá gồm: 19.200 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Dunhill, 1.800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Marlboro màu đỏ, 13.200 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Marlboro màu xanh và 10.800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Kent (có dán tem tiếng Việt) đến chất lên xe ô tô biển số 51D-395.40. Sau khi nhận thuốc lá điếu nhập lậu xong, T điều khiển xe ô tô tải biển số 51D-395.40 chở thuốc lá điếu nhập lậu đến địa bàn quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (cũ) giao. Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe ô tô tải đến khu vực đường tuần tra gần cột mốc số 194 thuộc ấp F, xã B, tỉnh Tây Ninh thì bị Công an phối hợp với Bộ đội Biên phòng tỉnh T phát hiện, bắt quả tang.

Tài sản, vật chứng thu giữ:

45.000 bao gồm (19.200 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Dunhill, 1.800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Marlboro màu đỏ, 13.200 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Marlboro màu xanh, 10.800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Kent (có dán tem tiếng Việt Nam).

01 xe ô tô tải biển số 51D-395.40.

01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, sim điện thoại số 0357303856.

Ngày 11/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T gửi mẫu thuốc lá điếu cùng văn bản đến Văn phòng Đ yêu cầu cung cấp thông đối với nguồn gốc của 10.800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Kent và 19.200 bao thuốc lá nhãn hiệu Dunhill, 15.000 bao thuốc lá nhãn hiệu Marlboro (bao bì màu xanh, đỏ) đã bị tạm giữ.Tại Văn bản số 103/CVTĐ-2025 ngày 16/7/2025 của H xác định: 03 mẫu cây (01 cây có 10 bao) thuốc lá điếu có nhãn hiệu Dunhill, M1 đỏ và M1 xanh do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T cung cấp là thuốc lá điếu nhập lậu.

Tại Văn bản số 02/2025-AIT-BAT ngày 15/7/2025 của Văn phòng Đ1 (Singapore) P1 tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định: 01 cây (10 bao) thuốc lá điếu nhãn hiệu Kent do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T cung cấp là sản phẩm chính hãng được chủ sỡ hữu nhãn hiệu đăng ký bảo hộ tại Việt Nam tại Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 113912 ngày 21/5/2007 cấp lại ngày 31/3/2017.

Tại Bản kết luận giám định số 3039/KL-KTHS ngày 20/01/2026 của Phòng K3 Công an tỉnh T kết luận: Các lớp in trên 10 bao thuốc lá nhãn hiệu “SWITCH KENT” ký hiệu từ A1 đến A10 với các lớp in tương ứng trên 10 bao thuốc lá nhãn hiệu “SWITCH KENT” ký hiệu từ M1 đến M10 là do cùng những bản in tương ứng in ra; Các lớp in trên 10 “TEM ĐIỆN TỬ THUỐC LÁ” ký hiệu từ A11 đến A20 với các lớp in tương ứng trên 10 “TEM ĐIỆN TỬ THUỐC LÁ” ký hiệu từ M11 đến M20 là do cùng những bản in tương ứng in ra.

Đối với người có tên K có hành vi thuê bị can Nguyễn Văn T vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu vào ngày 11/7/2025, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người này; người có tên Nguyễn Tấn T6, sinh năm 1985, nơi cư trú: xã T, huyện Đ, tỉnh Long An nay là xã H, tỉnh Tây Ninh thuê xe ô tô biển số 51D-395.40 để làm phương tiện vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, Cơ quan Cảnh sát điều tra không tìm thấy người có tên Nguyễn Tấn T6 trong hệ thống quản lý cư trú tại xã H. Mặt khác, bị can và người có liên quan đều xác định K và T6 đều sử dụng số điện thoại 0329368832 trong việc thuê người vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu và thuê xe ô tô tải nhưng số điện thoại trên do bà Trần Thị M đăng ký thông tin chủ sở hữu tuy nhiên qua làm việc bà M xác định không mua, không sử dụng số điện thoại và cũng đăng ký thông tin sở hữu đối với số điện thoại này nên không có căn cứ xử lý.

Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSKV2 ngày 03/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã truy tố Nguyễn Văn Thìn về tội: “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên nội dung Cáo trạng.

Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo là lao động chính, có bà nội là người có công với cách mạng theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; Điều 32; Điều 38; khoản 1 Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 (sáu) đến 07 (bảy) năm tù.

Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:

19.190 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Dunhill, 1.790 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Marlboro màu đỏ, 13.190 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Marlboro màu xanh: Là thuốc lá điếu ngoại nhập lậu nên đề nghị tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

10.800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Kent (có dán tem tiếng Việt Nam): Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu đối với 10.800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Kent (có dán tem tiếng Việt) là thuốc lá điếu chính hãng (không có hoá đơn) do đó đề nghị Hội đồng xét xử giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tiếp tục quản lý số thuốc lá nêu trên đến khi hết thời hạn quy định tại Điều 228 Bộ luật Dân sự thì tịch thu tiêu hủy theo quy định.

01 xe ô tô tải biển số 51D-395.40: Không có chứng cứ chứng minh ông Nguyễn Văn T4 biết việc sử dụng xe ô tô này vào việc phạm tội nên đề nghị trả lại xe ô tô cho ông Nguyễn Văn T4.

01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, sim điện thoại số 0357303856: Bị cáo có sử dụng liên lạc vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với người có tên K có hành vi thuê bị cáo Nguyễn Văn T vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu vào ngày 11/7/2025, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người này; người có tên Nguyễn Tấn T6, sinh năm 1985, nơi cư trú: xã T, huyện Đ, tỉnh Long An nay là xã H, tỉnh Tây Ninh thuê xe ô tô biển số 51D-395.40 để làm phương tiện vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, quá trình điều tra không tìm thấy người có tên Nguyễn Tấn T6 trong hệ thống quản lý cư trú tại xã H. Mặt khác, bị cáo và người có liên quan đều xác định K và T6 đều sử dụng số điện thoại 0329368832 trong việc thuê người vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu và thuê xe ô tô tải nhưng số điện thoại trên do bà Trần Thị M đăng ký thông tin chủ sở hữu. Qua làm việc bà M xác định không mua, không sử dụng số điện thoại và cũng đăng ký thông tin sở hữu đối với số điện thoại này nên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xử lý.

- Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không bị oan, không bị sai; bị cáo rất hối hận. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Ý kiến Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T4 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại xe ô tô tải biển số 51D-395.40 đã thu giữ cho ông Nguyễn Văn T4.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xác định tội danh, định khung mức hình phạt, điều luật áp dụng: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Xét thấy: Vào ngày 10/7/2025, Nguyễn Văn T được một người có tên K (không xác định được nhân thân lai lịch) thuê điều khiển xe ô tô tải vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu từ khu vực xã B, tỉnh Tây Ninh đi khu vực quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (cũ) để giao, giá tiền công là 3.500.000 đồng/chuyến. Sau khi nhận xe ô tô tải biển số 51D-395.40 và nhận 34.200 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại (gồm 19.200 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Dunhill, 1.800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Marlboro màu đỏ, 13.200 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Marlboro màu xanh) và 10.800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Kent (có dán tem chữ Việt Nam) là thuốc lá điếu chính hãng (không có hoá đơn). Sau đó T điều khiển xe này hướng về Thành phố Hồ Chí Minh để giao. Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 11/7/2025, khi T đi đến địa phận của Ấp F, xã B, tỉnh Tây Ninh thì bị Cơ quan Công an phối hợp với Bộ đội Biên phòng tỉnh T phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu nêu trên của bị cáo bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, bị cáo biết rõ việc vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo là lao động chính, có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo có bà nội là người có công cách mạng, được Chính phủ tặng kỷ niệm chương “Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù, đầy” nên được giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 32 và khoản 4 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về xử lý tài sản, vật chứng:

19.190 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Dunhill, 1.790 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Marlboro màu đỏ, 13.190 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Marlboro màu xanh: Là thuốc lá điếu ngoại nhập lậu nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

10.800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Kent (có dán tem chữ Việt Nam): Không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp, không xác định được là tài sản của ai, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, sim điện thoại số 0357303856: Đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

01 xe ô tô tải biển số 51D-395.40: Theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 589125 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H cấp ngày 24/7/2020 thì xe ô tô này do ông Trần Văn C đứng tên chủ xe. Tại biên bản làm việc ngày 11/7/2025 ông C khai khoảng hai năm về trước ông C đã bán xe ô tô này cho người khác ở tỉnh Long An với ố tiền 390.000.000 đồng và có đến Văn phòng công chứng để làm thủ tục, ông không còn giữ hồ sơ xe ô tô. Theo nội dung hợp đồng ủy quyền số công chứng 003404 do Văn phòng C1 (Thành phố Hồ Chí Minh) chứng nhận ngày 13/5/2024 thể hiện ông Trần Văn C và vợ là bà Từ Ngọc P đã ủy quyền cho ông Nguyễn Văn T4 được toàn quyền đối với xe ô tô tải nhãn hiệu HINO, biển số 51D-395.40, số máy: N04CVC20388, số khung: 42HXK9002135, số loại: XZU342L, loại xe: tải thùng kín. Sau đó, ông Nguyễn Văn T4 có lập “Giấy thuê xe” (giấy viết tay) với ông Nguyễn Tấn T6, sinh năm 1985; điạ chỉ: xã T, huyện Đ, tỉnh Long An cho ông T6 thuê xe ô tô tải biển số 51D-395.40 từ ngày 25/6/2025 đến ngày 25/8/2025 với mục đích ông T6 chở rau, củ, quả từ miền tây lên bến chợ đầu mối. Việc ông T6 có cho người khác sử dụng xe ô tô biển số 51D-395.40 hay không thì ông T4 không biết. Ông T4 khai ông chưa thực hiện thủ tục sang tên xe ô tô theo quy định vì nghe có người ở Văn phòng công chứng nói hợp đồng mua bán xe có hiệu lực 05 năm nếu không bán thì không còn hiệu lực nên ông định sử dụng vài năm rồi bán cho người khác để họ tự sang tên.

Do đó, không có chứng cứ chứng minh ông Nguyễn Văn T4 biết việc sử dụng xe ô tô tải biển số 51D-395.40 làm phương tiện để vận chuyển hàng cấm nên cần trả lại xe ô tô này cho ông Nguyễn Văn T4.

Ông Nguyễn Văn T4 phải thực hiện việc việc sang tên, đổi chủ xe ô tô tải biển số 51D-395.40 theo quy định. Nếu có tranh chấp về quyền sở hữu xe ô tô tải biển số 51D-395.40 thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự theo quy định của pháp luật.

Đối với người có tên K có hành vi thuê bị cáo Nguyễn Văn T vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu vào ngày 11/7/2025, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người này; người có tên Nguyễn Tấn T6, sinh năm 1985, nơi cư trú: xã T, huyện Đ, tỉnh Long An nay là xã H, tỉnh Tây Ninh thuê xe ô tô biển số 51D-395.40 để làm phương tiện vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, quá trình điều tra không tìm thấy người có tên Nguyễn Tấn T6 trong hệ thống quản lý cư trú tại xã H. Mặt khác, bị cáo và người có liên quan đều xác định K và T6 đều sử dụng số điện thoại 0329368832 trong việc thuê người vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu và thuê xe ô tô tải nhưng số điện thoại trên do bà Trần Thị M đăng ký thông tin chủ sở hữu. Quá trình điều tra bà M xác định không mua, không sử dụng số điện thoại và cũng đăng ký thông tin sở hữu đối với số điện thoại di động này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ÐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 191; điểm đ khoản 1 Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; Điều 329; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 11 tháng 7 năm 2025).

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

- Về xử lý tài sản, vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu và tiêu hủy: 19.190 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Dunhill, 1.790 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Marlboro màu đỏ, 13.190 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Marlboro màu xanh, 10.800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Kent.

Tịch thu và sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, sim điện thoại số 0357303856.

Trả lại cho ông Nguyễn Văn T4: 01 (một) xe ô tô tải biển số 51D-395.40.

(Vật chứng ghi theo Quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ-VKSKV2 ngày 03/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh).

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Cỡ chữ