- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Phan Nhật T - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quâ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Phan Nhật T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụnghình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụnghình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – GIA LAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2026/HS-ST Ngày 12-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – GIA LAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Sang.
2. Ông Nguyễn Đình Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hồng Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2026/TLST-HSngày 01 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩmsố: 136/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2026, đối với bị cáo:
Lê Phan Nhật T, sinh ngày 18 tháng 5 năm 2006, tại tỉnh Gia Lai;CCCD: 052206001057; nơi cư trú: Thôn A, xã C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thành Đ và bà Phan Thị Thúy H; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 17/12/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép 245 viên pháo nổ” với số tiền 15.000.000 đồng, đã chấp hành xong; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Lê Thành Đ, sinh năm 1974; có mặt.
2. Bà Phan Thị Thúy H, sinh năm 1976; có mặt.
3. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1993; vắng mặt.
4. Ông Đoàn Phương H2, sinh năm 1993; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng nửa sau năm 2023, Lê Phan Nhật T lên mạng internet tìm hiểu cách thức độ chế các loại súng đồ chơi “SKY”, “R8” dạng ổ quay bắn đạn xốp thành súng bắn được đạn thể thao đầu chì cỡ 5,6mm. Qua tìm hiểu, Nhật T nhận thấy chi phí mua linh kiện lắp ráp súng khoảng từ 1.200.000 đồng đến 2.000.000 đồng, nếu lắp ráp hoàn chỉnh có thể bán lại với giá từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng nên nảy sinh ý định mua linh kiện về lắp ráp súng để sử dụng và bán kiếm lời.
Để thực hiện, Nhật T đã lên mạng xã hội Facebook mua 01 tài khoản “ảo” tên “Bích Vân (kẹo)” với giá 10.000 đồng bằng hình thức thanh toán thẻ điện thoại, nhằm mục đích sử dụng liên lạc trong việc mua bán súng, đạn và linh kiện. Sau đó, Nhật T sử dụng tài khoản này tham gia các hội nhóm mua bán súng đạn trên mạng xã hội và liên hệ với các tài khoản không rõ lai lịch để đặt mua hàng.
Cụ thể, Nhật T đã liên hệ với tài khoản “Chim sẻ và dâu tây” để mua 20 viên đạn thể thao với giá khoảng 360.000 đồng và 01 khẩu súng đồ chơi “SKY” với giá 900.000 đồng; đồng thời liên hệ với tài khoản “Shindy PK” để mua 01 bộ linh kiện lắp ráp, độ chế súng “SKY” với giá 800.000 đồng và 03 bộ linh kiện để lắp ráp các loại súng “ZP5”, “R8” với giá 1.500.000 đồng. Ngoài ra, Nhật T còn mua thêm các dụng cụ mài giũa để phục vụ việc lắp ráp, chế tạo súng.
Phương thức giao dịch được thực hiện bằng cách Nhật Thành đến cửa hàng phụ kiện điện thoại “Xanh” tại xã C, tỉnh Gia Lai để đưa tiền mặt khoảng 100.000 đồng mỗi lần nhờ chủ cửa hàng chuyển khoản đặt cọc cho người bán thông qua tài khoản ngân hàng. Sau đó, người bán gửi hàng đến địa chỉ nhà của N tại thôn A, xã C, tỉnh Gia Lai và N thanh toán số tiền còn lại cho người giao hàng.
Sau khi nhận được súng, đạn và linh kiện, Nhật T tiến hành lắp ráp, độ chế khẩu súng “SKY”. Trong quá trình thử nghiệm, Nhật T mang súng ra khu vực bên hông nhà để bắn thử, đã sử dụng 14 viên đạn, trong đó có 10 viên không nổ và 04 viên bắn nổ được. Sau khi bắn viên đạn thứ 04 thì bộ phận kim hỏa của súng bị hỏng, Nhật T tháo rời bộ phận kim hỏa, tháo bộ phận búa đập và vứt bỏ kim hỏa, vỏ đạn, đầu đạn tại khu vực ruộng gần nhà (không xác định được vị trí cụ thể).
Đối với khẩu súng, bộ phận búa đập, 03 bộ linh kiện còn lại và 06 viên đạn chưa sử dụng, Nhật T cất giấu trong hộc tủ quần áo tại phòng ngủ nhằm mục đích khi cần sẽ tiếp tục lắp ráp sử dụng hoặc bán kiếm lại.
Ngoài ra, trong quá trình tham gia các hội nhóm mua bán súng đạn trên mạng xã hội, Nhật T còn quen biết một đối tượng sử dụng các tài khoản “Trung Hiếu” và “Hiếu Gun” (không rõ lai lịch). Người này đã gửi cho Nhật T hình ảnh, video về súng đạn và hướng dẫn cách thức đăng bài rao bán súng, đạn để môi giới. Hai bên thỏa thuận nếu có khách mua thì Nhật T sẽ yêu cầu khách chuyển khoản đặt cọc trước khoảng 30% giá trị đơn hàng và Nhật T được hưởng số tiền đặt cọc này, sau đó cung cấp thông tin khách hàng để đối tượng trên gửi hàng. Nhật T đã sử dụng tài khoản Facebook và tài khoản Telegram để đăng thông tin rao bán, tuy nhiên thực tế chưa thực hiện được giao dịch mua bán nào.
Đến ngày 25 tháng 9 năm 2025, Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại nơi ở của Nhật T gồm: 01 khẩu súng dạng rulo bằng kim loại (không có bộ phận kim hỏa), 03 bộ linh kiện chế tạo súng, 06 viên đạn thể thao và 06 dụng cụ mài giũa.
Tại Kết luận giám định, xác định: 06 viên đạn thu giữ là đạn cỡ (5,6x15,5)mm, còn sử dụng được và thuộc vũ khí quân dụng; khẩu súng và các linh kiện không phải là linh kiện cơ bản của súng, không thể lắp thành súng hoàn chỉnh nên không thuộc vũ khí. Trong quá trình giám định, 06 viên đạn đã được bắn thực nghiệm và không thu hồi lại vỏ đạn.
Tại Cáo trạng số 38/CT-VKSGL-P1 ngày 26 tháng 3 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Lê Phan Nhật T về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phân tích lời khainhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với nhau,phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định bịcáo Lê Phan Nhật T đã phạm tội như Cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Phan Nhật T từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 vật hình dạng súng bằng kim loại có kích thước (11x11)cm, hiện tại trên vật không có bộ phận giống kim hoả; 01 vật hình dạng giống búa đập bằng kim loại; 03 vật hình dạng giống lò xo bằng kim loại; 02 vật giống lẫy súng bằng kim loại; 03 vật hình dạng giống ốc vít bằng kim loại; 03 vật giống bộ phận kim hoả bằng kim loại; 21 vật trụ tròn bằng kim loại gồm: 18 vật có chiều dài 3,5cm, đường kính 01 cm; 03 vật có chiều dài 3,9cm, đường kính 1,1cm; 35 vật có hình dạng bánh răng 06 cạnh bằng kim loại, trong đó: 19 vật có đường kính 02cm, 16 vật có đường kính 1,5cm; 01 lục giác hình L bằng kim loại có kích thước hai cạnh lần lượt là 4,5cm và 1,5cm; 01 mũi vít lục giác bằng kim loại có tổng chiều dài 2,5cm, trong đó một đầu hình lục giác có đường kính 0,3cm, đầu còn lại dạng dẹp; 01 tua vít có tổng chiều dài 09cm, trong đó phần mũi bằng kim loại hình trụ chiều dài 4,3cm, có đầu mũi hình lục giác, phân tay cầm bằng nhựa có khía cạnh xung quanh chiều dài 4,7cm; 01 mũi mài hình trụ bằng kim loại có tổng chiều dài 4,8cm, trong đó trục giữa có chiều dài 3,5cm, phần dưới có đường vân nổi bánh răng có chiều dài 1,3cm; 01 dũa tam giác bằng kim loại tổng chiều dài 17cm, trong đó phần dũa có tiết diện là tam giác đều có chiều dài 11cm, phần tay cầm hình trụ tròn dài 06cm; 01 dũa tròn bằng kim loại tổng chiều dài 22cm, trong đó phần dũa có tiết diện tròn có khắc vân bánh cưa chiều dài 18cm, phần tay cầm có tiết diện hình vuông mũi nhọn chiều dài 04cm.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đượctranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Vào khoảng nửa sau năm 2023, bị cáo Lê Phan Nhật T đã lên mạng internet tìm hiểu, mua súng đồ chơi “SKY”, đạn thể thao và các linh kiện để độ chế thành súng bắn đạn thể thao nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Sau khi mua được 20 viên đạn thể thao, 01 khẩu súng đồ chơi và các linh kiện, bị cáo tiến hành lắp ráp, thử nghiệm bắn; đã sử dụng 14 viên đạn, còn lại 06 viên đạn cất giấu tại nơi ở. Đến ngày 25/9/2025, Cơ quan Công an phát hiện, thu giữ 06 viên đạn thể thao còn lại. Theo kết luận giám định, 06 viên đạn này là đạn cỡ (5,6x15,5)mm, còn sử dụng được và thuộc vũ khí quân dụng. Tại thời điểm thực hiện hành vi, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép đạn là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về vũ khí quân dụng. Do đó, có đủ căn cứ xác định bị cáo Lê Phan Nhật T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điềutra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Phan Nhật T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về vũ khí quân dụng, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh, trật tự và đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Bị cáo có nhân thân xấu, trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép pháo nổ”, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật có tính chất tương tự, lần này còn liên quan đến vũ khí quân dụng, mức độ nguy hiểm cao hơn. Do đó, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo và chưa ây hậu quả thiệt hại thực tế, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra có thu giữ 01 khẩu súng rulo bằng kim loại kích thước (11x11)cm, không có bộ phận kim hỏa; các linh kiện chế tạo súng và 06 dụng cụ mài giũa là những công cụ, phương tiện mà bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng hợp pháp nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 06 viên đạn thể thao đã được thu giữ và sau đó sử dụng bắn giámđịnh: Sau khi giám định, Cơ quan điều tra không thu giữ lại vỏ đạn là thiếu sót trong việc thu thập, quản lý vật chứng. Tuy nhiên, việc không thu hồi vỏ đạn không làm ảnh hưởng đến giá trị chứng minh của Kết luận giám định cũng như việc xác định bản chất vụ án, bởi kết luận giám định đã xác định rõ số đạn trên là vũ khí quân dụng. Mặt khác, nếu trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì cũng không có căn cứ để thu hồi lại các vỏ đạn đã bắn giám định, nên không cần thiết phải trả hồ sơ.
Đối với hành vi của ông Nguyễn Văn H1 và ông Đoàn Phương H2: Quá trình điều tra xác định, ông Nguyễn Văn H1 sử dụng tài khoản ngân hàng đứng tên ông Đoàn Phương H2 để thực hiện dịch vụ chuyển tiền thu phí tại cửa hàng. Khi bị cáo Lê Phan Nhật T đến nhờ chuyển tiền đặt cọc mua súng, đạn là linh kiện, bị cáo không thông báo mục đích chuyển tiền; ông H1 và ông H2 không biết, không tham gia, không có sự bàn bạc hay giúp sức gì đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Cơ quan điều tra xác định hành vi của ông Nguyễn Văn H1 và ông Đoàn Phương H2 không có dấu hiệu tội phạm, không xử lý trách nhiệm hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đối với các đối tượng sử dụng tài khoản “Chim sẻ và dâu tây”, “Shindy PK”, “Trung Hiếu”, “Hiếu Gun”: Do không xác định được nhân thân, lai lịch, không thu thập được tài liệu, chứng cứ liên quan nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để xử lý là phù hợp.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụnghình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Phan Nhật T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Phan Nhật T 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày bắt đi thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) vật hình dạng súng bằng kim loại có kích thước (11x11)cm, hiện tại trên vật không có bộ phận giống kim hỏa; 01 (một) vật hình dạng giống búa đập bằng kim loại; 03 (ba) vật hình dạng giống lò xo bằng kim loại; 02 (hai) vật giống lẫy súng bằng kim loại; 03 (ba) vật hình dạng giống ốc vít bằng kim loại; 03 (ba) vật giống bộ phận kim hỏa bằng kim loại; 21 (hai mươi mốt) vật trụ tròn bằng kim loại gồm: 18 (mười tám) vật có chiều dài 3,5cm, đường kính 01 cm, 03 (ba) vật có chiều dài 3,9cm, đường kính 1,1cm; 35 (ba mươi lăm) vật có hình dạng bánh răng 06 cạnh bằng kim loại, trong đó: 19 (mười chín) vật có đường kính 02cm, 16 (mười sáu) vật có đường kính 1,5cm; 01 (một) lục giác hình L bằng kim loại có kích thước hai cạnh lần lượt là 4,5cm và 1,5cm; 01 (một) mũi vít lục giác bằng kim loại có tổng chiều dài 2,5cm, trong đó một đầu hình lục giác có đường kính 0,3cm, đầu còn lại dạng dẹp; 01 (một) tua vít có tổng chiều dài 09cm, trong đó phần mũi bằng kim loại hình trụ chiều dài 4,3cm, có đầu mũi hình lục giác, phần tay cầm bằng nhựa có khía cạnh xung quanh chiều dài 4,7cm; 01 (một) mũi mài hình trụ bằng kim loại có tổng chiều dài 4,8cm, trong đó trục giữa có chiều dài 3,5cm, phần dưới có đường vân nối bánh răng có chiều dài 1,3cm; 01 (một) dũa tam giác bằng kim loại tổng chiều dài 17cm, trong đó phần dũa có tiết diện là tam giác đều có chiều dài 11cm, phần tay cầm hình trụ tròn dài 06cm; 01 (một) dũa tròn bằng kim loại tổng chiều dài 22cm, trong đó phần dũa có tiết diện tròn có khắc vân bánh cưa chiều dài 18cm, phần tay cầm có tiết diện hình vuông mũi nhọn chiều dài 04cm.
Vật chứng trên đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 4 năm 2026 (Biên bản thể hiện năm 2025) giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh G và Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – Gia Lai.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Phan Nhật T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND khu vực 2, tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - CQ CSĐT Công an tỉnh Gia Lai; - Phòng THADS khu vực 2- Gia Lai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lệ Quyên |