vanban.org

Bản án 57/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị Thuỳ T. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đỗ Thị Thuỳ T được ly hôn với anh Nguyễn Bảo P. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Tr yêu cầu ly hôn với anh Ph"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - ĐẮK LẮK
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 20/8/2026
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoa Lý.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thành Ngọc;

2. Ông Trương Đình Ry.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đăk Lăk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Từ Quốc Quyền – Kiểm sát viên.

Ngày 20/8/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2026/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2026 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/8/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Thuỳ T, sinh năm 2001. Có mặt.

Địa chỉ: Buôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Bảo P, sinh năm 1991. (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đỗ Thị Thuỳ T trình bày: Tôi và anh Nguyễn Bảo P tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 08/4/2024 tại Uỷ ban nhân dân xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân mẫu thuẫn do hai bên không tiếng nói chung, không hiểu nhau. Chúng tôi đã sống ly thân được hơn 1 năm nay. Đến nay chúng tôi không còn tình cảm nên tôi yêu cầu ly hôn với anh P. Về con chung: Chúng tôi 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Gia H (sinh ngày 02/9/2024). Tôi có nguyện vọng giao được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung: Tôi không yêu cầu giải quyết. Về tài sản và công nợ chung: Tôi không yêu cầu giải quyết.

- Tại Bản tự khai bị đơn anh Nguyễn Bảo P trình bày: Anh P đồng ý ly hôn với chị T. Về con chung, anh P và chị T có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H (sinh ngày 02/9/2024); anh P đồng ý giao con chung cho chị T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung: Tôi không yêu cầu giải quyết. Về tài sản và công nợ chung: Tôi không yêu cầu giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; Đối với bị đơn anh Nguyễn Bảo P có đơn xin vắng mặt nên đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án, chị T và anh P tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn; xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị T ly hôn với anh P. Về con chung: Đề nghị HĐXX chấp nhận giao con chung Nguyễn Ngọc Gia H (sinh ngày 02/9/2024) cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con chung, các bên không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra để giải quyết. Về tài sản và công nợ chung, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng: Anh P đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh P tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 08/4/2024 tại Uỷ ban nhân dân xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì dần phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, quan điểm sống; cả hai đã sống ly thân với nhau và không đoàn tụ được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh P đã đến mức trầm trọng, không thể hoà giải, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn với anh P để tạo điều kiện cho cả hai có một cuộc sống riêng là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 54, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống chị T và anh P có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H (sinh ngày 02/9/2024). Hiện cháu đang ở với chị T. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cháu Nguyễn Ngọc Gia H còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi, để tránh những thay đổi trong cuộc sống, sinh hoạt của cháu, cần giao cháu Nguyễn Ngọc Gia H cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

Anh P được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở; vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản và công nợ chung: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Toà án không đặt ra để xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 51, Điều 54, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị Thuỳ T.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đỗ Thị Thuỳ T được ly hôn với anh Nguyễn Bảo P.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H (sinh ngày 02/9/2024) cho chị Đỗ Thị Thuỳ T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đỗ Thị Thuỳ T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

Anh Nguyễn Bảo P được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở; vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

- Về tài sản và công nợ chung: Các bên không yêu cầu giải quyết.

- Về án phí: Chị Đỗ Thị Thuỳ T phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0005270 ngày 13/5/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Đắk Lắk.

Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo luật định.

Cỡ chữ