vanban.org

Bản án 57/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Võ Tường D được ly hôn với anh Trần Hoàng T.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Trần Hải Y, sinh ngày 08/10/2017, và Trần Hoàng T1, sinh ngày 31/10/2019. Cháu Trần Hải Y có nguyện vọng sống với mẹ là chị Tường D, chị D yêu cầu nuôi dưỡng 02 người con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử thống nhất giao 02 con chu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Tường D- Trần Hoàng Thế"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Võ Tường D được ly hôn với anh Trần Hoàng T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 23-3-2026
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Gấm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thu Trang và ông Hà Minh Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Danh Bình- Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 207/2026/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 105/2026/QĐ-ST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Tường D, sinh năm 1995 (Vắng mặt có đơn xin vắng)

Địa chỉ: Ấp A B, xã T, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Trần Hoàng T, sinh năm 1994 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp I B, xã T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Võ Tường D trình bày như sau:

Chị Tường D và anh T chung sống với nhau vào năm 2017, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, anh chị có thực hiện việc đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang ngày 20/6/2017.

Vợ chồng chung sống đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên cự cãi qua lại với nhau, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc, không tìm được tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng ly thân từ đầu năm 2025 đến nay.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tường D yêu cầu được ly hôn với anh T

Về con chung: Có 02 người con chung tên Trần Hải Y, sinh ngày 08/10/2017 và Trần Hoàng T1, sinh ngày 31/10/2019, chị D yêu cầu nuôi dưỡng 02 người con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Bị đơn anh Trần Hoàng T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nên không ghi nhận ý kiến.

Tại phiên tòa hôm nay: Chị Tường D giữ nguyên yêu cầu, ý kiến như đã trình bày. Anh T vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 –An Giang phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đảm bảo đúng theo quy định, đối với nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập lần 02 nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, xử cho chị D được ly hôn với anh T; Về con chung: Có 02 người con chung tên Trần Hải Y, sinh ngày 08/10/2017 và Trần Hoàng T1, sinh ngày 31/10/2019, cháu Trần Hải Y có nguyện vọng sống với mẹ là chị Tường D, chị D yêu cầu nuôi dưỡng 02 người con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có, nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn xã T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – An Giang theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn chị Tường D vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh T vắng mặt tại phiên tòa lần 02 không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung vụ án: Chị Võ Tường D yêu cầu được ly hôn với anh Trần Hoàng T và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung nên quan hệ pháp luật của vụ án được xác định là “Ly hôn, nuôi con”.

Chị Tường D kết hôn với anh Hoàng T trên cơ sở tự nguyện và đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang ngày 20/6/2017 nên hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T vẫn vắng mặt không lý do, không thể hiện hiện ý chí hàn gắn hôn nhân trước yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Tường D, vợ chồng đã tự ly thân từ đầu năm 2025 đến nay, không còn quan tâm chăm lo, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, trong quá trình giải quyết vụ án chị Tường D kiên quyết yêu cầu được ly hôn với anh T, chị không đồng ý đoàn tụ gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa anh, chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị Võ Tường D được ly hôn với anh Trần Hoàng T.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Trần Hải Y, sinh ngày 08/10/2017, và Trần Hoàng T1, sinh ngày 31/10/2019. Cháu Trần Hải Y có nguyện vọng sống với mẹ là chị Tường D, chị D yêu cầu nuôi dưỡng 02 người con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử thống nhất giao 02 con chung tên Trần Hải Y và Trần Hoàng T1 cho chị Tường D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận sự tự nguyện của Tường D về việc không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Chị Tường D xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Tường D có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Võ Tường D được ly hôn với anh Trần Hoàng T.

2. Về con chung: Có 02 người con chung tên Trần Hải Y, sinh ngày 08/10/2017, và Trần Hoàng T1, sinh ngày 31/10/2019. Cháu Trần Hải Y có nguyện vọng sống với mẹ là chị Tường D, chị D yêu cầu nuôi dưỡng 02 người con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử thống nhất giao 02 con chung tên Trần Hải Y và Trần Hoàng T1 cho chị Tường D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận sự tự nguyện của Tường D về việc không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai đươc ngăn cản, tuy nhiên anh Trần Hoàng T không được lạm dụng quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Chị Võ Tường D các định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Võ Tường D có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0010224 ngày 27 tháng 11 năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh An Giang. Chị Tường D đã nộp xong án phí.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ