- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Lê Ngọc H- Nguyễn Hùng V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Lê Ngọc H về việc “Ly hôn” đối với bị đơn anh Nguyễn Hùng V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21-5-2025 V/v tranh chấp: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Phi Hồng
Ông Lâm Ngọc Trao
- Thư ký phiên tòa: Bà Quân Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 440/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Lê Ngọc H, sinh năm 1993.
Địa chỉ: 1004/3 Lý Thái Tổ, ấp H, xã T, huyện N, tỉnh Đ.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hùng V, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Tổ 13, ấp P2, xã H, huyện N, tỉnh Đ.
(Chị H có yêu cầu vắng mặt, anh V có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Nguyễn Lê Ngọc H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hùng V tự nguyện chung sống vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Đ, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 88 ngày 27/10/2011.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến cuối năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên bất hòa, cuối năm 2011 thì chị và anh V sống ly thân nhau đến nay.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, không thể hòa giải đoàn tụ nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh V.
- Về con chung: Có 01 cháu tên là Nguyễn Quốc Kh, sinh ngày 12/8/2011. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc nên chị H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
* Bị đơn anh Nguyễn Hùng V trình bày:
Anh và chị H chung sống trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/10/2011.
Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng không có sự thông cảm, sẻ chia. Từ cuối năm 2011 anh và chị H sống ly thân đến nay không hòa giải đoàn tụ. Nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, không có khả năng hòa giải đoàn tụ nên nay chị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, anh V đồng ý.
- Về con chung: Có 01 cháu tên là Nguyễn Quốc Kh, sinh ngày 12/8/2011. Ly hôn, anh đồng ý giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Chị H và anh V chung sống trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện N, tỉnh Đ vào năm 2011. Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là Nguyễn Quốc Kh, sinh ngày 12/8/2011. Do bất đồng quan điểm sống nên từ cuối năm 2011 chị H và anh V sống ly thân nhau đến nay không hòa giải đoàn tụ. Nay chị H yêu cầu giải quyết ly hôn, xin nuôi con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng, anh V đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị H và anh V đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ các điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Chị Nguyễn Lê Ngọc H có đơn xin vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo quy định.
.Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự:
Chị Nguyễn Lê Ngọc H yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Hùng V. Hiện nay anh V có thường trú và sinh sống tại ấp P2, xã H, huyện N, tỉnh Đ nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện N có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn”.
Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định nguyên đơn là chị Nguyễn Lê Ngọc H, bị đơn là anh Nguyễn Hùng V.
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Lê Ngọc H và anh Nguyễn Hùng V tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 88 ngày 27/10/2011 nên căn cứ Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, hôn nhân trên được xem là hợp pháp.
Xét lời trình bày của chị H tại đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày của anh V tại phiên tòa cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ nhận thấy: Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa chị H, anh V là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có sự chia sẻ, thông cảm nên bất hòa. Từ cuối năm 2011 anh chị sống ly thân nhau đến nay không hòa giải đoàn tụ lần nào. Nay chị H yêu cầu giải quyết ly hôn, anh V đồng ý.
Từ những căn cứ trên, xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H được ly hôn với anh V là phù hợp quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
. Về con chung: Chị H và anh V khai trong quá trình chung sống, anh chị có 01 con chung là Nguyễn Quốc Khang, sinh ngày 12/8/2011. Ly hôn, chị H đề nghị được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con, anh V đồng ý.
Xét thấy, việc thỏa thuận nuôi dưỡng con chung giữa chị H và anh V phù hợp pháp luật. Ngoài ra cháu Kh cũng có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Vì vậy cần giao con chung cho chị H nuôi dưỡng, tạm thời anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
. Tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh V khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016, chị Nguyễn Lê Ngọc H phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 220, 227, 228, 238, 264, 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; các điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Lê Ngọc H về việc “Ly hôn” đối với bị đơn anh Nguyễn Hùng V.
1. Xử: Cho chị Nguyễn Lê Ngọc H được ly hôn anh Nguyễn Hùng V.
2. Về con chung: Xử giao cháu Nguyễn Quốc Kh, sinh ngày 12/8/2011 cho chị Nguyễn Lê Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Nguyễn Hùng V không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Lê Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0022064 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Đ. Chị H đã nộp đủ án phí.
Anh Nguyễn Hùng V được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng chị Nguyễn Lê Ngọc H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện N; - Tòa án tỉnh; Thi hành án; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Mai |