vanban.org

Bản án 57/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về việc “Ly hôn” với bị đơn ông Dương Trúc P. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Dương Trúc P. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H - P ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2025
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Văn Lước

Ông Bồ Quốc Khánh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 72/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 32/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Tổ 6, khu phố 7, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Tổ 2, khu phố Ô, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Ông Dương Trúc P, sinh năm 1990; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Thôn T, xã Ia L, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ liên hệ: Tổ 2, khu phố Ô, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà Nguyễn Thị H và ông Dương Trúc P sau thời gian quen biết đã tiến đến hôn nhân, đăng ký kết hôn ngày 05/9/2023 tại UBND xã Ia Lốp, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã Ia Lốp, tỉnh Đắk Lắk). Sau khi kết hôn không lâu, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, lối sống, các bên không tìm được sự đồng cảm trong việc giải quyết các vấn đề gia đình, công việc và cuộc sống. Hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn để cùng giữ gìn tổ ấm nhưng đều không mang lại kết quả do mối bất hoà giữa vợ chồng đã quá trầm trọng. Nay mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể khắc phục và ngày càng trầm trọng hơn. Những mối bất đồng kéo dài suốt thời gian qua đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống. Hiện không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Nguyễn Thị H yêu cầu được ly hôn với ông Dương Trúc P.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị H và ông Dương Trúc P không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn ông Dương Trúc P đều vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà phát biểu quan điểm như sau:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử giải quyết vụ án đúng trình tự tố tụng, các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng ông Dương Trúc P và bà Nguyễn Thị H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con là có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, bị đơn có nơi cư trú tại phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn xin được xét xử vắng mặt, bị đơn ông Dương Trúc P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng: Bà Nguyễn Thị H và ông Dương Trúc P là những người đủ điều kiện kết hôn, chung sống với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục, có đăng ký kết hôn 05/9/2023 tại UBND xã Ia Lốp, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã Ia Lốp, tỉnh Đắk Lắk) nên là hôn nhân hợp pháp. Ông Dương Trúc P được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên hoà giải, tham gia phiên toà nhưng ông Dương Trúc P không đến, cũng không có ý kiến gửi cho Tòa án, điều này cho thấy ông Dương Trúc P không quan tâm, không thiện chí, không mong muốn vợ chồng đoàn tụ, xây dựng gia đình hạnh phúc. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng ông Dương Trúc P và bà Nguyễn Thị H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị H yêu cầu được ly hôn với ông Dương Trúc P là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị H xác định không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Các Điều 28, 35, 39, 92, 147, 227, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về việc “Ly hôn” với bị đơn ông Dương Trúc P.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Dương Trúc P.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị H xác định không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003220 ngày 14/7/2025 tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ