- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Thị L,
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/9/2025 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13- ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Liên và ông Lương Tấn Nghị.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Lan – Thư ký TAND khu vực 13 - Đắk Lắk.
Đại diện VKSND khu vực 13 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 131/2025/TB-TLVA ngày 16 tháng 6 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2025/QĐ-HPT ngày 08 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Đặng Thị L, sinh năm 1991; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Võ Như T, sinh năm 1987; Vắng mặt.
Đồng địa chỉ: Thôn M, xã T, tỉnh Đắk Lắk.
Người làm chứng: Võ Thị Mộng V, sinh năm 1967; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: M, xã T, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Đặng Thị L trình bày: Bà Đặng Thị L và ông Võ Như T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Bình 2 (cũ) vào ngày 24/12/2013. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài từ nhiều năm, mặc dù hai bên gia đình đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng hai vợ chồng không hòa hợp được. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2015 cho đến nay, không cùng chí hướng xây dựng hạnh phúc gia đình. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không tồn tại nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Thành D, sinh ngày 29/11/2014 và Võ Thành L, sinh ngày 19/4/2019. Hiện nay 02con chung do bà L trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn, bà L yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi 02 con chung Danh và Lợi, bà L hiện đang buôn bán quần áo, thu nhập bình quân mỗi tháng 10.000.000đ đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn ông Võ Như T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, vì mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: Giao 02 cháu Võ Thành D, sinh ngày 29/11/2014 và Võ Thành L, sinh ngày 19/4/2019 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các đương sự tranh chấp về ly hôn, là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có nơi cư trú hiện nay tại: Thôn M, xã T, tỉnh Đắk Lắk, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Đắk Lắk.
[1.2] Nguyên đơn, người làm chứng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án, nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Đặng Thị L và bị đơn Võ Như T tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (cũ) vào ngày 24/12/2013 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau và sống ly thân từ đầu năm 2029 đến nay. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm ai, đúng như xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T tại biên bản xác minh ngày 17/7/2025.
Ý kiến của bà Võ Thị Mộng V là mẹ đẻ của bị đơn Võ Như T khai, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng bà L và ông T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đã sống ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống.
Như vậy, đủ cơ sở xác định, mâu thuẫn giữa bà L và ông T đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị L như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
[2.2] Về con chung: Xét thấy 02 cháu Võ Thành D, sinh ngày 29/11/2014 và Võ Thành L, sinh ngày 19/4/2019 hiện do nguyên đơn bà L trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn nguyên đơn bà L yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cháu Võ Thành D có nguyện vọng ở với nguyên đơn bà L, còn cháu Võ Thành L còn nhỏ cần có sự chăm sóc, yêu thương của mẹ, tình cảm mẹ con lâu nay gắn bó; Do đó, để cháu Danh và cháu Lợi phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, cần giao 02 cháu Danh và cháu Lợi cho cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[2.3] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn Đặng Thị L phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 BLTTDS;
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Thị L,
1.Về hôn nhân: Nguyên đơn Đặng Thị L được ly hôn với bị đơn Võ Như T.
2.Về con chung: Giao 02 con chung tên Võ Thành D, sinh ngày 29/11/2014 và Võ Thành L, sinh ngày 19/4/2019 cho nguyên đơn bà Đặng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng;
Bị đơn Võ Như T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Nguyên đơn Đặng Thị L phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007301 ngày 16/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên (cũ).
4. Về kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 13 - Đắk Lắk; - UBND xã Tây Hòa; (CNKH số 132/2018); - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thúy |