- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Xuân Dũng và Ng Quang Tấn - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Mạnh C2 và Trần Thị Thúy N2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU -TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:57/2024/HS-ST Ngày: 29-03-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Bạo.
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngô Khánh Loan - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 03 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 03 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hoàng Xuân D, tên gọi khác: không; sinh ngày: 25.10.1996, tại Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Khu phố D, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không; cha: Hoàng Xuân P (SN: 1972) và mẹ Nguyễn Thị T (sinh năm: 1976); gia đình bị cáo có 03 anh em, bị caó là con thứ nhất; vợ: Nguyễn Thị Thanh T1 và có 02 con, 01 con sinh năm 2020 và 01 con sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: chưa.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20.9.2023 tại Nhà tạm giữ Công an quận L.
2. Họ và tên: Nguyễn Quang T2, tên gọi khác: không; sinh ngày: 09.9.1988, tại Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ A, P. H, Q. C, TP .; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; con ông: Nguyễn Văn T3 (chết) và bà Nguyễn Thị B (SN: 1963); gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ 03; tiền án, tiền sự: chưa.
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Người Bị hại:
+ Bà Hồ Thị Bích D1; sinh năm 1992; địa chỉ : Tổ A, phường P, quận S, tp Đà
Nẵng.(Vắng mặt).
+ Ông Hồ Xuân T4, sinh năm 2001; địa chỉ : Thôn G , xã T, huyện T, tỉnh
Quảng Trị.(Vắng mặt).
+ Ông Bùi Thế A, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ C, phường T, quận T, tp Đà
Nẵng.(Vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Trần L; sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ A, phường P, quận S , tp Đà
Nẵng.(Vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Châu T5; sinh năm 1998; địa chỉ : Thôn H xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1982: địa chỉ :Tổ B, Phường H, quận L, Tp Đà Nẵng.(Vắng mặt).
+ Ông Đoàn Trung H1, sinh năm :1995; địa chỉ : Thôn A, xã T, huyện T, Tỉnh
Quảng Trị. (Vắng mặt).
+ Ông Hồ Xuân D2, sinh năm: 1972; địa chỉ : Thôn G, T , T, Tỉnh Quảng Trị.
(Vắng mặt).
+ Ông Trần Xuân T6; sinh năm :1992; địa chỉ : Thôn T, huyện N, Tỉnh Quảng
Nam.(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian từ ngày 07.8.2023 đến ngày 19.9.2023 tại địa bàn thành phố Đà Nẵng, do cần tiền phục vụ nhu cầu cá nhân nên Hoàng Xuân D đã nhiều lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 08h15’ ngày 07.8.2023, thông qua nhóm “cho thuê xe máy giả rẻ Đà Nẵng” trên trang mạng xã hội Facebook Hoàng Xuân D liên hệ với chị Hồ Thị Bích D1 (sn: 1992, trú: Tổ A, P. P, Q. S, TP .) để hỏi thuê xe máy với giá 120.000 đồng/ 01 ngày. Sau đó, chị D1 nhờ chồng là anh Nguyễn Tiến L1 (sn: 1983) đem xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision gắn BKS 43E1- 314.54 mang xe đến trước số nhà C Hải Phòng, Q. T, TP . để giao cho D. Sau khi nhận được xe thì D vào trang mạng xã hội “Trao đổi mua bán xe máy cũ Đà Nẵng” để tìm người tiêu thụ thì liên hệ được với anh Nguyễn Châu T5 (sn: 1998, trú: Thôn H, X. Đ, H. Đ, T. Quảng N) đồng ý mua và hẹn giao dịch tại khu vực chân cầu vượt H, Q. C, TP .. Tại địa điểm trên, qua kiểm tra thì anh T5 phát hiện xe mô tô trên không có giấy tờ nên không đồng ý mua. Lúc này, D nói với anh T5 là thế chấp xe mô tô trên với giá 4.000.000 đồng, đến khi nào có giấy tờ đầy đủ thì sẽ bán cho anh T5 xe mô tô này thì anh T5 đồng ý. Số tiền cầm cố, Hoàng Xuân D tiêu xài cá nhân hết, tài sản đã thu hồi được.
Theo kết luận định giá tài sản số 115/KL-HDĐGTS ngày 09/11/2023 Hội động định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L, tp Đà Nẵng : Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision gắn BKS 43E1- 314.54 trị giá 22.500.000 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm ngàn đồng). (BL: 11-14).
Vụ thứ hai: Cũng trong tháng 9 năm 2023, trong quá trình làm công nhân tại Trang trại nuôi gà Mỹ Kê tại thôn D, X. H, H. H, TP . thì Hoàng Xuân D quen biết với anh Hồ Xuân T4 (sn: 2001, trú: Thôn G, X. T, H. T, T. Q), biết anh T4 có xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade gắn BKS 74D1- 223.31 nên này sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô này. Đến ngày 11.9.2023, lợi dụng lúc anh T4 đi tắm thì D lục quần áo của anh T4 lấy trộm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển kiểm soát 74D1- 223.31 mang tên Hồ Xuân T4 nhằm mục đích chiếm đoạt xe của anh T4. Sau đó, D giả vờ hỏi mượn xe mô tô BKS 74D1- 223.31 để đi công việc, tin tưởng D nên anh T4 đồng ý. Sau khi nhận xe từ anh T4 thì D đem đến tiệm cầm đồ Sáu L2 do anh Nguyễn Văn H (sn: 1982-làm chủ) tại A N, P. H, Q. L, TP . để cầm cố. Khi anh H hỏi giấy tờ thì D cung cấp giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển kiểm soát 74D1- 223.31 mang tên Hồ Xuân T4 và nói là xe của mình thì anh H đồng ý cầm cố với giá 10.000.000 đồng. Đến ngày 12.9.2023 thông qua hội nhóm “Nhóm trao đổi và mua bán xe máy cũ Đà Nẵng”, Hoàng Xuân D liên hệ bán xe mô tô nêu trên cho một người thanh niên không rõ lai lịch có nich Facebook “L”. Sau đó, D chuộc lại xe mô tô trên với số tiền 10.200.000 đông và bán lại cho người có nich Facebook “L” với giá 14.200.000 đồng. Số tiền bán xe D tiêu xài cá nhân hết, tài sản không thu hồi được.
Theo kết luận định giá tài sản số 115/KL-HDĐGTS ngày 09/11/2023 Hội động định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L, tp Đà Nẵng: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade gắn BKS 74D1- 223.31 trị giá 25.500.000 đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm ngàn đồng). (BL: 11-14).
Vụ thứ ba: Đến ngày 19.9.2023, Hoàng Xuân D tiếp tục sử dụng nick Face book “Hải Đoàn” mà D lập ra từ trước để nhắn tin vào trang mạng “Cho thuê xe máy giá rẻ Đà Nẵng” để tìm người cho thuê xe. Lúc này, anh Bùi Thế A (SN:1985, trú: Tổ C, P. T, Q. T, TP . làm dịch vụ cho thuê xe máy) liên hệ với D (khi trao đổi D nói tên giả là H1) và trao đổi thống nhất cho D thuê 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius gắn BKS 92N1-439.01 với giá 100.000 đồng một ngày, 20.000 đồng phí giao xe và hẹn giao xe tại khu vực trước B thành phố Đà Nẵng, P. H, Q. L, TP .. Đến 16h00’cùng ngày, anh A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius gắn BKS 92N1-439.01 đến vị trí hẹn giao xe cho D, khi giao dịch thì D đưa giấy phép lái xe và căn cước công dân mang tên Đoàn Trung H1 (số giấy tờ này do D trộm của anh Đoàn Trung H1- sn:1992, trú: Thôn A, X. T, H. T, T. Quảng T7 vào ngày 05.9.2023 tại Trang trại nuôi gà M) cho anh A để kiểm tra. Sau khi kiểm tra, anh A trả giấy phép lái xe lại cho D và giữ lại căn cước công dân mang tên Đoàn Trung H1 và nói D chuyển khoản tiền thuê xe cho mình thì D nói mạng bị lỗi không chuyển được, tí sẽ chuyển. Do đang có việc bận nên anh A đồng ý giao xe và nói D tí nhớ chuyển tiền cho A. Đến khoảng 17h cùng ngày, vẫn chưa thấy D chuyển tiền nên anh A nghi ngờ nên bật định vị trên xe mô tô 92N1- 439.01 thì phát hiện xe đang ở khu vực ngã tư C- B, Q. C, TP . nên đi đến kiếm. Về phía Hoàng Xuân D, sau khi nhận được xe, D sử dụng nick Face book “Hải Đoàn” đăng trên trang mạng xã hội tìm người mua xe không giấy tờ thì được Nguyễn Quang T2 dùng nick Face book “Vo Trần” liên hệ mua, thoả thuận giá là 2.700.000 đồng và hẹn giao dịch tại khu vực ngã tư C- B, Q. C, TP .. Sau khi xem xe, dù biết rõ xe mô tô trên không có giấy tờ, không rõ nguồn gốc, xe mô tô do phạm pháp mà có, giá bán xe không đúng với giá trị, không biết người bán là ai nhưng vì ham rẻ, mong muốn có xe về sử dụng nên T2 vẫn mua với giá 2.700.000 đồng thì T2 đưa cho Anh tiền mặt 1.700.000 đồng và chuyển khoản 1.000.000 đồng vào tài khoản của D có số 19035632933011 mở tại ngân hàng T16 và quá trình mua bán cũng không viết giấy mua bán. Sau khi mua xe thì T2 điều khiển xe đi về, D ra bắt xe grab để đi thì bị anh Bùi Thế A phát hiện, giữ lại và đưa đến Công an phường H, Q. C để trình báo và Công an phường H đã mời Nguyễn Quang T2 lên làm việc và thu giữ xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius gắn BKS 92N1-439.01. Sau khi xác định vị trí giao nhận xe giữa Bùi Thế A và Hoàng Xuân D là tại P. H, Q. L, TP . nên Công an phường H đã chuyển thông tin đến Công an quận L để thụ lý giải quyết.
Theo kết luận định giá tài sản số 103/KL-HDĐGTS ngày 22/9/2023 Hội động định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L, tp Đà Nẵng: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius gắn BKS 92N1-439.01 trị giá 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng).
Tổng giá trị tài sản mà Hoàng Xuân D đã chiếm đoạt là 56.000.000 đồng (năm mươi sáu triệu đồng), giá trị tài sản mà Huỳnh Quang T8 phạm pháp là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).
* Vật chứng tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius gắn BKS 92N1-439.01; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision gắn BKS 43E1- 314.54; giấy phép lái xe và căn cước công dân đều mang tên Đoàn Trung H1; 01 điện thoại di động hiệu Itel màu xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu vàng nhạt gắn ốp lưng màu đen; 01 sim số 0338152474; 01 ví da màu đà; Tiền Việt Nam 1.894.000 đồng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 43H1- 198.57 mang tên Hồ Duy B1.
- Tại Cáo trạng số 37/CT-VKS-LC, ngày 20 tháng 02 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo:
- Hoàng Xuân Dũng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
- Nguyễn Quang T2 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo Hoàng Xuân D, Nguyễn Quang T2, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 52, xử phạt bị cáo Hoàng Xuân D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T2 từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng.
* Xử lý vật chứng:
-Tuyên tiêu hủy: 01 sim số 0338152474 của bị cáo T2.
-Sung Công quỹ nhà nước:
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Itel màu xanh đen của bị cáo D; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu vàng nhạt gắn ốp lưng màu đen cảu bị cáo T2.
- Tuyên trả cho bị cáo 01 ví da màu đà; Tiền Việt Nam 1.894.000 đồng.
- Truy thu số tiền thu lợi bất chính 2.700.000 mà bị cáo đã nhận của Bị cáo T2.
- Tiếp tục quỹ trữ số tiền 1.894.000 đồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Bị cáo D đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại anh Hồ Xuân T4, anh T4 đã nhận lại tiền bồi thường và bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D nên không yêu cầu giải quyết gì thêm; đối với ông Nguyễn Châu T5 yêu cầu bị cáo bồi thường 4.000.000đ nên đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải trả cho anh T5; đối với bị cáo Nguyễn Quang T2 số tiền 2.700.000đ không yêu cầu bị cáo D trả lại nên đề nghị HĐXX truy thu số tiền này để sung Công quỹ nhà nước.
Ngoài ra các bị hại, người liên quan khác đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Xuân D, Nguyễn Quang T2 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên; ăn năn hối cải, mong muốn HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về các hành vi và quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Hoàng Xuân D, Nguyễn Quang T2 trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Trong thời gian từ ngày 07.8.2023 đến ngày 19.9.2023 tại địa bàn thành phố Đà Nẵng, do cần tiền phục vụ nhu cầu cá nhân nên Hoàng Xuân D đã có hành vi gian dối để lừa đảo chiếm đoạt của anh Bùi Thế A 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius gắn BKS 92N1-439.01 trị giá 8.000.000 đồng, của anh Hồ Xuân T4 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade gắn BKS 74D1- 223.31 trị giá 25.500.000 đồng; của chị Hồ Thị Bích D1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision gắn BKS 43E1- 314.54 trị giá 22.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Hoàng Xuân D chiếm đoạt là 56.000.000 đồng (năm mươi sáu triệu đồng).
Bị cáo Nguyễn Quang T2 biết rõ xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius gắn BKS 92N1-439.01 không có giấy tờ, không rõ nguồn gốc, giá bán xe không đúng với giá trị, xe mô tô do phạm pháp mà có nhưng vì ham rẻ biết rõ là tài sản có vấn đề nhưng bị cáo T2 vẫn đồng ý mua từ bị cáo D. Gía trị tài sản mà Nguyễn Quang T2 phạm pháp là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).
Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Xuân D phạm vào tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2, Điều 174 Bộ luật hình sự; Nguyễn Quang T2 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự; như bản Cáo trạng số 37/CT-VKS, ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tính chất vụ án, vai trò, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng Bị cáo Hoàng Xuân D là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài thỏa mãn nhu cầu cá nhân nhưng lại lười nhác lao động, bị cáo đã lên kế hoạch từ trước và đã dùng thủ đoạn đưa ra thông tin gian dối thuê xe trên mạng xã hội 03 lần để cho chủ sở hữu tin tưởng và nhằm giao tài sản cho bị cáo rồi chiếm đoạt, tài sản của nhiều người có giá trị từ trên 50.000.000 đồng trở lên; xâm phạm đến quyền, sở hữu tài sản của công dân là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần phải được xử lý nghiêm.
Đối với bị cáo Nguyễn Quang T2 là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chỉ vì không có phương tiện đi lại và ham rẻ, bất chấp vi phạm pháp luật mặc dù không hứa hẹn trước với bị cáo D, biết rõ tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn mua để sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, nguy hiểm, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần phải được xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với các bị cáo:
Bị cáo Hoàng Xuân D có một tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Bị cáo Hoàng Xuân D được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS;
Bị cáo Nguyễn Quang T2 không có tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo Nguyễn Quang T2 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Từ các nhận định nói trên: Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo Hoàng Xuân D ra ngoài xã hội một thời gian, để trở thành con người có ích cho gia đình và xã hội, xử phạt Bị cáo hình phạt tù có thời hạn là có căn cứ; Do vậy, cần áp dụng Điều 38 của BLHS năm 2015.
Đối với bị cáo Nguyễn Quang T2 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ân năn hối cải, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự; có nơi cư trú rõ ràng và đảm bảo các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15.5.2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15.4.2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15.5.2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xét thấy, không cần phải cách ly bị cáo Nguyễn Quang T2 ra khỏi đời sống xã hội nhưng vẫn đảm bảo tính giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội. Vì vậy, HĐXX quyết định áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo Nguyễn Quang T2 được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Xuân D đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Hồ Xuân T4 số tiền 25.500.000 đồng giá trị tài sản bị chiếm đoạt, anh T4 đã nhận tiền và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đối với ông Nguyễn Châu T5 yêu cầu bị cáo trả lại cho ông 4.000.000đ số tiền này ông đã đưa cho bị cáo, xét thấy phù hợp nên HĐXX chấp nhận, buộc bị cáo phải có nghĩa vụ trả cho anh T5 là có cơ sở.
Đối với Bị cáo Nguyễn Quang T2 mua xe của bị cáo D với số tiền 2.700.000đ bị cáo T2 không yêu cầu bị cáo D trả lại là có căn cứ, do số tiền này là tiền do thu lợi bất chính, vì vậy HĐXX tuyên truy thu sung Công quỹ nhà nước là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự tuyên:
- Tuyên tiêu hủy: 01 sim số 0338152474 của bị cáo T2.
- Tuyên sung công quỹ nhà nước: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Itel màu xanh đen của bị cáo D; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu vàng nhạt gắn ốp lưng màu đen của bị cáo T2.
- Tuyên trả lại cho bị cáo: 01 ví da màu đà; Tiền Việt Nam 1.894.000 đồng.
- Truy thu số tiền thu lợi bất chính 2.700.000đ mà bị cáo đã nhận của Bị cáo T2.
- Tiếp tục quỹ trữ số tiền 1.894.000 đồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius gắn BKS 92N1-439.01; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision gắn BKS 43E1- 314.54; giấy phép lái xe và căn cước công dân đều mang tên Đoàn Trung H1: Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định trả lại cho chủ sỡ hữu. Chủ sở hữu đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không đề cập giải quyết.
- Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 43H1- 198.57 mang tên Hồ Duy B1: Qúa trình điều tra, Hoàng Xuân D khai nhận là do D nhặt được, hiện Cơ quan điều tra chưa làm việc được với chủ sỡ hữu nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ, điều tra, làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Văn H, Nguyễn Châu T5 có hành vi cầm cố xe mô tô do Hoàng Xuân D nhưng không biết xe mô tô này do D phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính về hành vi cấm cố xe không chính chủ là có căn cứ.
- Đối với người chưa rõ lai lịch “Long phan” mua xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade gắn BKS 74D1- 223.31 do Hoàng Xuân D chiếm đoạt hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
Án phí sơ thẩm : Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng phình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Hoàng Xuân D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; Nguyễn Quang T2 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về Tội Danh:
- Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khỏan 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Tuyên bố Bị cáo Hoàng Xuân D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51, 65 Bộ luật hình sự năm 2015; Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang T2 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân D 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20.9.2023.
- Xử phạt: Nguyễn Quang T2 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 29.3.2024.
Giao bị cáo Nguyễn Quang T2 cho UBND phường H, quận C, TP Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3.Về phần trách nhiệm Dân sự : Buộc bị cáo Hoàng Xuân D phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Châu T5 số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự tuyên:
- Sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Itel màu xanh đen của bị cáo D; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu vàng nhạt gắn ốp lưng màu đen; 01 sim số 0338152474 của bị cáo T2;
- Truy thu số tiền thu lợi bất chính 2.700.000đ (hai triệu bảy trăm ngàn đồng).
- Tuyên trả lại cho bị cáo: 01 ví da màu đà; Tiền Việt Nam 1.894.000 đồng.
- Tiếp tục quỹ trữ số tiền 1.894.000 đồng (một triệu, tám trăm chín mươi bốn ngàn đồng) để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo D.
(Toàn bộ vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận L theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16 tháng 02 năm 2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu và Công an quận L).
5. Án phí sơ thẩm : Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng phình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo Hoàng Xuân D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; Nguyễn Quang T2 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; riêng những người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. N¬i nhËn:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Q. Liên Chiểu;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- TAND TP. Đà Nẵng;
- Công an Q;
- Chi cục T;
- Nhà tạm giữ Công an Q;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu hå s¬;
Nguyễn Đức Hoàng
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Đức Hoàng TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Q. LIÊN CHIỂU-TP ĐÀ NẴNG
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số:30 /2024/HSST Ngày: 28/02/2024. s
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức H2.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn K.
Bà Trương Thị Mỹ H3.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngô Khánh L3 – Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc H4 - Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2024/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
1.Họ và tên: Trần Mạnh Thế P1, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1990; tại: Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT và C ở hiện nay: Tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Con ông: Trần Mạnh P2 (Đã chết) và bà: Đặng Thị X (Sinh năm 1962). Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 04 (bốn) anh em. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Bích P3 (Sinh năm 1990), có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: chưa có.
Nhân thân: Ngày 11/5/2005 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm của Bản án số 30/2005/HSST.
Bị cáo bị bắt trong trường hợp quả tang, bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 30/10/2023 đến nay (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị Bích P3, sinh năm 1990; Địa chỉ : Tổ E phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (có mặt).
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn T9; Địa chỉ: Tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10h50 ngày 10/8/2023, tại khu vực thuộc tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Công an phường H tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà của Trần Mạnh Thế P1 phát hiện, bắt quả tang và thu giữ: 33 gói nilon bên trong có chứa thực vật khô, nghi là ma tuý nằm ở trong tủ thờ . P1 khai nhận số ma tuý này là cỏ Mỹ được P1 mua vào ngày 07/8/2023 từ 01 (một) người phụ nữ tên “Yến” (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) tại khu vực đường L, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng để bán cho các con nghiện.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ của Trần Mạnh Thế P1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím, gắn sim số 0905.424.274 và số tiền 1.790.000 đồng.
Ngày 25/8/2023, Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng đã ban hành Kết luận giám định số 1719 xác định: Mẫu thực vật khô ký hiệu A gửi giám định có tìm thấy chất ma tuý MDMB-4en-PINACA; tổng khối lượng mẫu là 90,76 gam (MDMB-4en-PINACA thuộc nhóm ma tuý Cần sa tổng hợp). Hiện nay, V2 và Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng không có mẫu chuẩn định lượng chất ma tuý MDMB-4en-PINACA nên không thể xác định được hàm lượng cũng như khối lượng chất ma tuý MDMB-4en-PINACA trong mẫu vật gửi giám định.
Tiến hành điều tra mở rộng, trên cơ sở tang vật thu giữ và lời khai nhận của Trần Mạnh Thế P1, đủ cơ sở để xác định: Trần Mạnh Thế P1 bắt đầu hoạt động mua bán trái phép chất ma tuý loại cỏ Mỹ từ tháng 6/2023 cho đến trước khi bị phát hiện, bắt quả tang. Nguồn ma tuý P1 mua từ đối tượng tên “Y” trên đường L, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Tổng cộng P1 đã có 03 (ba) lần mua ma tuý cỏ Mỹ từ “Yến”, khối lượng 100 gam cỏ Mỹ/ 01 lần với giá tiền mỗi lần mua là 1.000.000 đồng. Sau đó, P1 đem về phân nhỏ thành khoảng 37 (ba mươi bảy)-38 (ba mươi tám) gói nhỏ để bán lại với giá 50.000 đồng/gói nhằm kiếm lời, trong đó P1 đã bán nhiều lần cho các đối tượng tên gọi “Ghẹ”, “Tèo”, “P4”,… (chưa xác định được nhân thân, lai lịch). Các đối tượng mua ma tuý sẽ liên hệ với P1 qua số điện thoại 0905.424.274, rồi tiến hành giao dịch mua bán tại trước nhà của P1 và giao tiền mặt. Vào ngày 07/8/2023, P1 đi đến khu vực đường L để tìm gặp “Y” và mua 100 gam cỏ Mỹ với giá 1.000.000 đồng. Sau đó, P1 đem về phân nhỏ thành 38 (ba mươi tám) gói và đã bán được 05 (năm) gói cho các con nghiện với tổng số tiền 250.000 đồng, 33 (ba mươi ba) gói còn lại, P1 cất giữ trong tủ thờ, đến ngày 10/8/2023 thì bị công an phát hiện, bắt quả tang như đã nêu. Tổng số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy của P1 là 1.500.000 đồng.
Với nội dung trên tại Bản cáo trạng số: 17/CT-VKS ngày 22/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trần Mạnh T10 phong về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung Cáo trạng. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân của từng bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Mạnh Thế P1 mức án từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy ” .
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói được hoàn lại trong niêm phong số 1719/KL-KTHS ngày 25/8/2023 của Phòng K1 Công an T17 theo biên bản đóng gói niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định.
- Tịch thu sung công quỹ:
+ 01(một)điện thoại di động Iphone 14 promax, màu tím, gắn thẻ sim: 0905.424.274.
- Truy thu số tiền thu lợi bất chính 1.500.000đ.
- Tiếp tục quy trữ số tiền 2.100.000đ để đảm bảo thi hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải nộp phạt số tiền 05 đến 10 triệu đồng.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, rất ân năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, thành phố Đà Nẵng;Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp đúng quy định pháp luật.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Mạnh Thế P1: Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Từ khoảng tháng 6/2023 đến ngày 10/8/2023, tại khu vực thuộc tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Trần Mạnh Thế P1 đã có 03 lần mua ma tuý loại cỏ Mỹ về bán lại nhiều lần cho các con nghiện, thu lợi bất chính số tiền 1.500.000 đồng. Số ma tuý còn lại bị thu giữ vào ngày 10/8/2023 là 90,76 gam thực vật khô có chứa chất ma tuý MDMB-4en-PINACA, thuộc nhóm ma tuý Cần sa tổng hợp.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
-Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, bị cáo P1 có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo biết rất rõ các tác hại mà ma túy mang lại, biết rõ ma túy là loại độc dược do Nhà nước độc quyền quản lý, vì vậy nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển…trái phép các chất ma túy dưới bất cứ hình thức nào là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ; Mặt khác, Ma tuý là chất gây nghiện, nó đầu độc hệ thần kinh con người, hủy hoại giống nòi, Người nghiện ma tuý có thể dẫn đến các hành vi phạm tội khác như: Trộm cắp, Cướp tài sản, Giết người….Do đó, hành vi của Bị cáo cần xử lý nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo P1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trong quá trình điều tra Bị cáo P1 đã tự nguyện khai nhận ra 02 lần phạm tội trước đó và tự nguyện động viên gia đình giao nộp tiền thu lợi bất chính. Do đó, Bị cáo P1 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhânt thân: Ngày 11/5/2005 bị Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm tù về tội Cướp tài sản nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm của bản án số 30/2005/HSST.
Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của Bị cáo là rất nghiêm trọng, chỉ vì mục đích lợi nhuận tiêu xài cá nhân, Bị cáo đã bất chấp hậu quả xấu gây ra cho xã hội, cố ý thực hiện tội phạm. Do vậy, cần áp dụng Điều 38 của BLHS năm 2015, xử phạt Bị cáo hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để trở thành con người có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải nộp phạt số tiền 05 triệu đồng.
[5] Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói được hoàn lại trong niêm phong số 1719/KL-KTHS ngày 25/8/2023 của Phòng K1 Công an T17 theo biên bản đóng gói niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định.
- Tịch thu sung công quỹ:
+01 (một)điện thoại di động Iphone 14 promax, màu tím, gắn thẻ sim: 0905.424.274.
- Trả lại cho bà P3 số tiền 1.190.000 đồng, đây là tiền riêng của bà phượng là vợ bị cáo; Tuy nhiên bà P3 không nhận mà đề nghị nộp vào tiền thu lợi bất chính của bị cáo P1, nên HĐXX xét thấy phù hợp nên được chấp nhận.
- Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền thu lợi bất chính 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Tiếp tục quy trữ số tiền 2.100.000 đ (trong đó 1.790.000 đ và ngày 23/02/2024 bị cáo tác động gia đình nộp số tiền 310.000đ bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 1627) tại cơ quan Thi hành án dân sự quận L tp Đà Nẵng đang tạm giữ của bị cáo để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.
Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/01/2024.
[6] Đối với những vấn đề khác trong vụ án, cụ thể:
- Đối với đối tượng tên “Y” bán ma túy cho Trần Mạnh Thế P1, các đối tượng tên “Ghẹ”, “Tèo”, “P4” và các đối tượng khác mua ma tuý từ P: đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau là có cơ sở.
[7]. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1.Về Tội Danh:
- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Bộ luật hình sự năm 2015.
- Tuyên bố Bị cáo Trần Mạnh Thế P1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt: Bị cáo Trần Mạnh Thế P1 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị bắt tạm giam 30/10/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói được hoàn lại trong niêm phong số 1719/KL-KTHS ngày 25/8/2023 của Phòng K1 Công an T17 theo biên bản đóng gói niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định.
- Tịch thu sung công quỹ:
+01 (một)điện thoại di động Iphone 14 promax, màu tím, gắn thẻ sim: 0905.424.274.
-Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền thu lợi bất chính 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng).
-Tiếp tục quy trữ số tiền 2.100.000 đ (trong đó 1.790.000 đ và ngày 23/02/2024 bị cáo tác động gia đình nộp số tiền 310.000đ bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 1627) tại cơ quan Thi hành án dân sự quận L tp Đà Nẵng đang tạm giữ của bị cáo để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.
Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/01/2024.
3. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Trần Mạnh Thế P1 phải nộp phạt số tiền 05 (năm) triệu đồng.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Trần Mạnh Thế P1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Đức Hoàng
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND quận Liên Chiểu;
T - Chủ tọa phiên toà
- Chi cục THA dân sự quận L;
- Cơ quan CSĐT Công an quận L;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Đức H2
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Đức H2
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Đức Hoàng
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND quận Liên Chiểu;
T - Chủ tọa phiên toà
- Chi cục THA dân sự quận L;
- Cơ quan CSĐT Công an quận L;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Đức H2
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh B2- Trịnh Văn Bạo Nguyễn Đức H5 .
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND quận Liên Chiểu;
T - Chủ tọa phiên toà
- Chi cục THA dân sự quận L;
- Cơ quan CSĐT Công an quận L;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Đức H5
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Lệ Nguyễn Công C1 Trần Nguyễn Thi Thi
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Q. LIÊN CHIỂU-TP ĐÀ NẴNG
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: /2023/HSST Ngày: 22/11/2023. s
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức H5.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn B3.
Bà Nguyễn Thị Thanh B2.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngô Khánh L3 – Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc H4 - Kiểm sát viên. Ngày 22 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2023/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
1.Họ và tên: Nguyễn Mạnh C2 ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không có; Sinh ngày 26 tháng 01 năm 1994; tại: Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: Tổ F, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: LĐPT; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Minh Q (Sinh năm 1960) và bà: Đàm Thị Ngọc T11 (Sinh năm 1947). Bị cáo là con đầu trong gia đình có 02 (hai) anh em. Bị cáo có vợ là Phan Thị Linh D3 (Sinh năm 1997), có 01 con nhỏ sinh năm 2021 ; Tiền án, tiền sự: chưa có.
Nhân thân: Ngày 19/7/2021 bị Công an quận T, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Xâm hại đến sức khoẻ người khác. Bị can đã chấp hành hình phạt tiền vào ngày 19/7/2021.
-Ngày 01/3/2023 bị công an quận L, tp Đà Nẵng xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy.
Bị cáo bị bắt trong trường hợp quả tang, bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 14/02/2023 đến nay.
02. Họ và tên; Trần Thị Thúy N2 ; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1994; tại: Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: Tổ B, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở hiện nay: K T, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà: Nguyễn Thị T12 (Sinh năm 1962 đã mất). Bị cáo là con út trong gia đình có 03 (ba) anh em. Bị cáo có 03 con sinh năm 2012, 2020 và 2023; Tiền án ; Tiền sự: chưa.
Nhân thân: Ngày 01/3/2023 bị công an quận L, tp Đà Nẵng xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy.
Bị can hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và T13 hoãn xuất cảnh.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh C2: Ông Huỳnh Q1 - Luật sư; Địa chỉ 24 T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (có đơn xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Văn Nguyên V, sinh năm 1983; Địa chỉ K T, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt không có lý do).
+ Ông Nguyễn Thọ V1, sinh năm 1996; Địa chỉ: C N, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt không có lý do).
+ Bà Lương Thị Phương T14; Địa chỉ: Tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà
Nẵng (Vắng mặt không có lý do).
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Ngọc L4; Địa chỉ: Tổ A, phường H, quận L,
thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20h40 ngày 14/02/2023, tại nhà trọ ở địa chỉ tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L phối hợp với Công an phường H tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Mạnh C2 và Trần Thị Thúy N2 đang tàng trữ trái phép chất ma túy để bán. Tang vật thu giữ: 01 gói nylon bên ngoài có quấn băng keo màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma tuý; 01 cái cân tiểu ly bên ngoài có chữ Manlloro; 20 bao nylon rỗng kích thước khoảng 03x3.5cm; 01 ống hút bằng nhựa được cắt nhọn một đầu; 01 cái hộp giấy màu đen (I). Tiến hành khám xét khẩn cấp tại địa chỉ trên, Cơ quan điều tra tiếp tục thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng gắn sim số 0375.739.398 của Nguyễn Mạnh C2; 01 chai nhựa không có nước, nắp màu xanh và 01 cái nỏ thuỷ tinh .
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ của Trần Thị Thúy N2: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng, gắn sim số 0935.012.400; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu bạc, gắn sim số 0562.641.486 (III) (BL: 114-115).
Ngày 22/02/2023, Phòng K1 Công an thành phố T17 đã ban hành Kết luận giám định số 136 xác định: Tinh thể màu trắng trong phong bì kí hiệu A gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu A: 1,061 gam, H6 lại sau giám định 0,982g và toàn bộ võ bao gói mẫu .
Tiến hành điều tra mở rộng, trên cơ sở tang vật thu giữ và lời khai của các đối tượng liên quan, đủ cơ sở để xác định:
Nguyễn Mạnh C2 và Trần Thị Thúy N2 sống chung như vợ chồng từ khoảng tháng 01/2023 tại nhà trọ thuộc tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Do cần tiền tiêu xài và để có ma tuý sử dụng cho bản thân nên C2 và N2 đã cùng nhau mua ma tuý đá về bán nhiều lần. Nguồn gốc ma tuý là C2 mua từ một đối tượng tên “Tý Trọng” (chưa xác định được nhân thân, lai lịch). C2 sử dụng cân tiểu ly và bao nylon rỗng mua từ “Tý Trọng” để chia nhỏ ma tuý bán cho con nghiện. Các gói ma tuý đã chia được bỏ vào trong các vỏ bao thuốc lá, khẩu trang, bìa carton,… Con nghiện khi có nhu cầu mua ma tuý sẽ liên hệ với Trần Thị Thúy N2 qua số điện thoại 0562.641.486, rồi N2 và C2 sẽ thay nhau đi cất giấu ma tuý tại các vị trí khác nhau như đường N, N, N, Đinh L5,…Sau đó, N2 nhắn tin địa chỉ cất giấu ma tuý cho con nghiện đến lấy. Tiền mua ma tuý được con nghiện chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng V3 số 1026308467 đứng tên Trần Thị Thúy N2. Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2023 cho đến trước khi bị bắt, C2 và N2 thu lợi từ việc bán ma tuý số tiền 3.000.000 đồng. Số tiền này được sử dụng để chi tiêu sinh hoạt chung cho cả hai và C2 sử dụng để chơi game.
Quá trình điều tra đã xác định Nguyễn Mạnh C2 và Trần Thị Thúy N2 đã bán ma túy nhiều lần cho các đối tượng sau:
1. Nguyễn Văn Nguyên V (Sinh năm 1983, trú tại tổ D, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng) sử dụng số điện thoại 0905.121.056 đã mua ma tuý khoảng 5-6 lần từ Trần Thị Thúy N2 với giá tiền mỗi lần mua là 300.000 đồng – 500.000 đồng. Lần gần nhất V mua từ N2 01 gói ma tuý đá với giá 500.000 đồng vào ngày 11/02/2023 .
2. Nguyễn Thọ V1 (Sinh năm 1996, trú tại tổ D, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng) đã mua ma tuý nhiều lần từ N2 và có 03 lần mua ma tuý từ C2, với giá tiền mỗi lần mua là 300.000 đồng (BL: 159-174).
Ngoài ra, C2 và N2 còn bán ma túy nhiều lần cho nhiều người không xác định được nhân thân, lai lịch.
Với nội dung trên tại Bản cáo trạng số: 125/CT-VKS ngày 23/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Mạnh C2 và Trần Thị Thúy N2 về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung Cáo trạng. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân của từng bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C2 mức án từ 08 (tám) năm đến 09 (Chín ) năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy ” .
- Áp dụng: Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s, n khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Thị Thúy N2 mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy ” .
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
* Tịch thu tiêu hủy: Mẫu hoàn trả sau giám định số 136/KL-KTHS ngày 22/2/2023 của Phòng K1 Công an T17 Hoàn lại sau giám định 0,982g và toàn bộ võ bao gói mẫu .
+01 Căn tiểu ly bên ngoài có chữ Manlloro; 20(hai mươi) bao ny long rỗng có kích thước khoảng (3x3,5) cm.
+01 (một) ống hút được cắt nhọn một đầu.
+01 (một) hợp giấy màu đen.
+01 (một) chai nhựa không có nước, nắp màu xanh, và 01 (một) cái nỏ thủy tinh.
* Tịch thu sung công quỹ:
+01 (một) điện thoại di động Iphone, màu hồng, gắn thể sim: 0375.739.398.
+01 (một) điện thoại di động Iphone, màu vàng , gắn thể sim: 0935.012.400.
+01 (một) điện thoại di động Iphone, màu bạc, gắn thể sim: 0562.641.486.
Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự : Buộc các bị cáo phải nộp số tiền 05 đến 10 triệu đồng.
Tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, thành phố Đà Nẵng;Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Mạnh C2 và Trần Thị Thúy N2 : Qua xem xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa; quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Từ khoảng tháng 01/2023 đến ngày 14/02/2023, Nguyễn Mạnh C2 và Trần Thị Thúy N2 có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine nhiều lần cho Nguyễn Văn Nguyên V (V mua của N2 khoản 10 lần) , Nguyễn Thọ V1 (V1 mua của C2 03 lần và N2 khoản 10 lần) và nhiều người khác nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch; thu lợi bất chính số tiền 3.000.000 đồng. Khối lượng ma túy thu giữ mà C2 và N2 chưa kịp bán là 1.061 gam Methamphetamine.
Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:
Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, các bị cáo C2 và N2 có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân các bị cáo là người nghiện ma túy nên biết rất rõ các tác hại mà ma túy mang lại, biết rõ ma túy là loại độc dược do Nhà nước độc quyền quản lý, , vì vậy nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển…trái phép các chất ma túy dưới bất cứ hình thức nào thế nhưng các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của tất cả các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ, chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, gây nên những hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và lan tràn tệ nạn xã hội, đồng thời còn là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác.
Trong vụ án này, Bị cáo C2 là cầm đầu khởi sướng là người trực tiếp mua ma túy về rồi phân nhỏ ra để bán cho các con nghiện, bị cáo N2 là người có vai trò giúp sức một cách tích cực, cụ thể là người trực tiếp liên hệ cho các con nghiện để bán, chỉ chỗ nơi cất giấu ma túy và nhận tiền; Các bị cáo là đồng phạm có vai trò đều ngang nhau; Do đó cần phải xử phạt một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo mới đủ tính răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo một thời gian để giáo dục răn đe các bị cáo trở thành con người có ích cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Mạnh C2 và Trần Thị Thúy N2 không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C2, trước đó bị cáo chối tội, nhưng sau giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo , ân nân hối cải, động viên gia đình khắc phục hậu quả tiền thu lợi bất chính 3 triệu, bị cáo từng tham gia đi nghĩa vụ quân sự năm 2013, ông N3, bà nội là người có công cách mạng nên được hưởng điểm s khoản 1 và khỏa 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Đối với bị cáo Trần Thị Thúy N2, bị cáo thành khẩn khai báo, ân nân hối cải, khi phạm tội bị cáo đang mang thai, bị cáo là lao động chính trong gia đình vì đang nuôi 03 con nhỏ, nên được hưởng các tình tiết tại điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về nhân Thân:
- Bị cáo Nguyễn Mạnh C2 : Ngày 19/7/2021bị xử phạt hành chính về hành vi Xâm hại đến sức khỏe của người khác và Ngày 01/3/2023 Bị Công an quận L xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
-Bị cáo Trần Mạnh C3 và Trần Thị Thúy N2: Khi bắt quả tang về hành vi nói trên và bị dương tính với ma túy, ngày 01/3/2023 bị Công an quận L xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
[6] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự : Buộc các bị cáo phải nộp số tiền 05 triệu đồng.
[7] Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
* Tịch thu tiêu hủy: Mẫu hoàn trả sau giám định số 136/KL-KTHS ngày 22/2/2023 của Phòng K1 Công an T17 Hoàn lại sau giám định 0,982g và toàn bộ võ bao gói mẫu .
+01 Căn tiểu ly bên ngoài có chữ Manlloro; 20(hai mươi) bao ny long rỗng có kích thước khoảng (3x3,5) cm.
+01 (một) ống hút được cắt nhọn một đầu.
+01 (một) hợp giấy màu đen.
+01 (một) chai nhựa không có nước, nắp màu xanh, và 01 (một) cái nỏ thủy tinh.
* Tịch thu sung công quỹ:
-Đối với Nguyễn Mạnh C2 thu 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu hồng, gắn thể sim: 0375.739.398.
- Đối với Trần Thị Thúy Ngọc T15 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu vàng, gắn thể sim: 0935.012.400 và 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu bạc, gắn thể sim: 0562.641.486.
Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2023.
-Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền thu lợi bất chính 3.000.000đ (ba triệu đồng) gia đình bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 1543 ngày 15/11/2023 tại chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, tp Đà Nẵng.
[8] Đối với ý kiến trình bày của Luật sư : Ngoài những tình tiết giảm nhẹ như trên HĐXX chấp nhận; còn đối với các tình tiết giảm nhẹ mà Luật sư đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo C2: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả cụ thể là C2 đã vận động người nhà nộp số tiền thu lợi bất chính 3 triệu đồng theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là chưa hợp lý, tình tiết này thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn điểm h và phạm tội lần đầu thuộc điểm i Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự là không hợp lý nên HĐXX không có cơ sở để chấp nhận.
- Luật sư áp dụng điểm x khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự là người phạm tội có công cách mạng là không đúng, vì chỉ có ông N3 bà N3 bị cáo là người có công cách mạng nên trường hợp nàyHĐXX áp dụng k 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.
- Luật sư cho rằng bản thân Bị cáo C2 là lao động chính trong gia đình và đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, xét thấy bị cáo C2 bỏ mặc vợ con để sống chung với bị cáo N2 như vợ chồng, C2 đang bị đâu chân nên cũng không đi làm để có thu nhập, nên HĐXX xét thấy không có cơ sở để chấp nhận.
[9] Đối với những vấn đề khác trong vụ án, cụ thể:
- Đối với đối tượng tên “Tý Trọng” mà Nguyễn Mạnh C2 khai nhận đã mua ma tuý, đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau là có cơ sở.
- Đối với Nguyễn Văn Nguyên V và Nguyễn Thọ V1: Cơ quan điều tra xác định C2, N2, V, V1 dương tính với ma túy nên Công an quận L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý là có cơ sở.
[9]. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Mạnh C2 và Trần Thị Thúy N2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh C2 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 14/02/2023.
- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Thúy N2 08 (tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
* Tịch thu tiêu hủy: Mẫu hoàn trả sau giám định số 136/KL-KTHS ngày 22/02/2023 của Phòng K1 Công an T17 Hoàn lại sau giám định 0,982g và toàn bộ võ bao gói mẫu .
+01 Căn tiểu ly bên ngoài có chữ Manlloro; 20(hai mươi) bao ny long rỗng có kích thước khoảng (3x3,5) cm.
+01 (một) ống hút được cắt nhọn một đầu.
+01 (một) hợp giấy màu đen.
+01 (một) chai nhựa không có nước, nắp màu xanh, và 01 (một) cái nỏ thủy tinh.
* Tịch thu sung công quỹ:
-Đối với Nguyễn Mạnh C2 thu 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu hồng, gắn thể sim: 0375.739.398.
- Đối với Trần Thị Thúy Ngọc T15 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu vàng , gắn thể sim: 0935.012.400 và 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu bạc, gắn thể sim: 0562.641.486.
Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2023.
3.Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền thu lợi bất chính 3.000.000đ (ba triệu đồng) gia đình bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 1543 ngày 15/11/2023 tại chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, tp Đà Nẵng. (đã nộp đủ).
4. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Buộc các bị cáo Nguyễn Mạnh C2 và Trần Thị Thúy N2 phải nộp số tiền 05 (năm) triệu đồng.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Nguyễn Mạnh C2 và Trần Thị Thúy N2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Luật sư bào chức cho bị cáo Nguyễn Mạnh C2; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án tại địa phương.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Phạm Trần Trúc M - Trương Thị Mỹ Hạnh Nguyễn Đức H7 .
| Nơi nhận: - VKSND quận Liên Chiểu; - Chi cục THA dân sự quận Liên Chiểu; - Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. Các Hội thẩm nhân dân Huỳnh Thị Lệ Nguyễn Công Chi Trần Nguyễn Thi Thi | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Đức Hoàng HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |