vanban.org

Bản án 57/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thường Tín, TP. Hà Nội Tuyên án 22/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Ngọc T và Bạch Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 24 (hai bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/3/2024. Xử phạt: Bị cáo Bạch Văn H 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/02/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc T và Bạch Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Ngọc T và Bạch Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THƯỜNG TÍN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HS-ST
Ngày: 22-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Tuyển. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hiếu Luân và bà Nguyễn Thị Trang.

- Thư ký phiên tòa: Hứa Thị Hà, Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Tô Quốc Hải - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1987; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Thôn T, xã H, huyện M, TP. Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1966 con bà Lê Thị Q, sinh năm 1967; Vợ, con: Không. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Quyết định số 71/QĐXP ngày 19/04/2008, của Đồn Công an số 01 - Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 150.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Năm 2011 bị Tòa án nhân dân quận H, Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 30/8/2011 (đã xóa án tích). Năm 2013, bị Tòa án nhân dân quận G, TP Hồ Chí Minh xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 27/10/2013 (đã xóa án tích). Năm 2014 bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh T xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 22/8/2016 (đã xóa án tích). Năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện U, Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 04/12/2020 (đã xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/3/2024. Có mặt.

2. Bạch Văn H, sinh năm: 1975; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Thôn Đ, xã A, huyện M, TP. Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Bạch Văn H2 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Đ (đã chết); Vợ Ngô Thị H3, Con: có 03 con (lớn nhất sinh năm: 1995; nhỏ nhất sinh năm 2002). Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Năm 2005 bị Tòa án nhân dân huyện M, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ra trại ngày 03/10/2007 (đã xóa án tích). Năm 2010 bị Tòa án nhân dân quận T, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ra trại ngày 27/12/2012 (đã xóa án tích). Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện U, Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ra trại ngày 11/9/2020 (đã xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/02/2024. Có mặt.

- Bị hại: Anh Dương Văn T1, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn P, xã T,

huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.(Vắng mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Viết B, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện M, TP Hà Nội. (Có mặt)

- Anh Nguyễn Văn B1, sinh năm 1985, Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện M, TP Hà Nội. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 29/01/2024, Nguyễn Ngọc T chuẩn bị 01 cà lê, 01 đầu vam dẹt (công cụ phá khóa xe mô tô) rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream không lắp biển kiểm soát đến nhà và rủ Bạch Văn H đi trộm cắp xe mô tô để bán chia nhau tiền tiêu sài. H đồng ý và lên xe T chở tìm xem nhà ai sơ hở thì trộm cắp. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi T chở H đi đến quán cafe P thuộc địa phận thôn N, xã V, huyện Thường Tín, TP Hà Nội, T phát hiện có nhiều xe mô tô dựng ở trước cửa quán, không có người trông giữ nên bảo H đứng ngoài đường cảnh giới còn T đi bộ vào dùng cờ lê và đầu vam dẹt phá khoá chiếc xe mô tô Honda Wave alpha màu xanh đen, của anh Dương Văn T1. Sau đó, T điều khiển chiếc xe vừa trộm được, còn H điều khiển xe Honda Dream của T đi về nhà H. Trên đường đi đến cánh đồng xã X, huyện T, TP Hà Nội, T dừng xe tháo BKS 29Y5-706.42 ném xuống mương nước rồi đi về nhà H. Tại đây cả 2 bàn bạc cất tạm chiếc xe vừa trộm được ở nhà H để tìm người tiêu thụ. Đến ngày 01/02/2024, H điều khiển xe mô tô trộm cắp được đi đến cửa hàng sửa chữa xe mô tô của anh Nguyễn Viết B thay ổ khóa. Sau đó, H mang xe về nhà cà số khung chiếc xe mô tô trộm cắp được. Ngày 02/02/2024, H cho anh Nguyễn Văn B1 mượn chiếc xe mô tô trên để sử dụng đi lại.

Ngày 29/01/2024, anh Dương Văn T1 có đơn trình báo Công an xã V.

Ngày 03/02/2024, H bị bắt. Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bạch Văn H tại thôn Đ, xã A, huyện M, TP Hà Nội phát hiện, thu giữ: 01 áo khoác màu xanh rêu, 01 mũ bảo hiểm màu đen kẻ sọc trắng, 01 đôi giày màu nâu là trang phục của Bạch Văn H khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cùng ngày Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Ngọc T tại thôn T, xã H, huyện M, TP Hà Nội phát hiện, thu giữ: 01 áo khoác màu đen là trang phục T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Ngày 09/3/2024, Nguyễn Ngọc T bị bắt tạm giam, cơ quan điều tra thu giữ trên người T 01 cờ lê số 08 màu trắng (01 đầu tròn, 01 đầu móc), 01 đầu vam dẹt.

Ngày 02/02/2024, anh Nguyễn Văn B1 tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô Honda Wave alpha màu xanh đen bạc mà H cho anh B1 mượn để phục vụ công tác điều tra.

Ngày 03/02/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thường Tín đã có Yêu cầu định giá tài sản số 701 đối với chiếc xe mô tô bị trộm cắp nêu trên. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 07 ngày 05/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thường Tín kết luận: 01(một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh đen bạc, BKS: 29Y5-706.42, số khung: RLHJA 3925LY089979, SM: JA39E-2093982 mua mới được đưa vào sử dụng từ tháng 01/2021 có giá: 11.000.000 đồng.

Ngày 11/3/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 682 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội giám định số khung, số máy nguyên thủy của xe mô tô trên. Tại bản kết luận giám định số 2048/KL-KTHS ngày 21/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không đeo biển kiểm soát: tại bề mặt kim loại vị trí số khung của xe phát hiện dấu vết tác động cơ học, xác định số khung nguyên thủy của xe là : ?...79 (ký tự “?” không xác định được); số máy nguyên thủy: JA39E-2093982.

Đối với anh Nguyễn Văn B1 và anh Nguyễn Viết B không biết chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha màu xanh đen của H là tài sản trộm cắp mà có và không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý anh B1 và anh B.

Đối với chiếc biển kiểm soát T khai vứt tại cánh đồng xã X, huyện T, TP Hà Nội, Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải T chỉ địa điểm và tiến hành truy tìm nhưng không thấy, nên không thu hồi được.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen do H và T trộm cắp là tài sản của anh Dương Văn T1. Ngày 10/4/2024, Cơ quan CSĐT đã ra quyết định trả cho anh T1.

Về trách nhiệm dân sự: Anh T1 đã nhận lại chiếc xe mô tô bị trộm cắp nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh đen không có biển kiểm soát (do T đã tháo vứt biển kiểm soát đi) và không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.

Tại cáo trạng số 45/CT-VKSTT ngày 24 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín đã truy tố Nguyễn Ngọc T và Bạch Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố và các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc T và Bạch Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 18 - 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (09/3/2024); xử phạt bị cáo Bạch Văn H từ 15 - 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (03/02/2024). Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Anh T1 đã nhận lại chiếc xe mô tô bị trộm cắp và không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên không xét. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tranh luận tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Viết B giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không có yêu cầu gì thêm

Lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận thức rõ hành vi vi phạm phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra , xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thường Tín, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Ngọc T và Bạch Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản. Vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, với các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ để xác định: Khoảng 16 giờ ngày 29/01/2024, tại trước cửa quán cafe P thuộc địa phận thôn N, xã V, huyện Thường Tín, TP Hà Nội, Nguyễn Ngọc T và Bạch Văn H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Dương Văn T1 chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha màu xanh đen, BKS: 29Y5-706.42 đã qua sử dụng, trị giá: 11.000.000 đồng.

Đối chiếu với quy định của pháp luật, hành vi của các bị cáo Nguyễn Ngọc T và Bạch Văn H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín truy tố các bị cáo ra xét xử về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn khiến quần chúng nhân dân bất bình. Để kịp thời đấu tranh phòng chống tội phạm, cần thiết phải xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để các bị cáo thấm thía với tội lỗi của mình mà trở về con đường lương thiện, đồng thời cũng để làm gương cho những kẻ khác.

Đây là vụ án có đồng phạm ở mức độ giản đơn, trong đó Nguyễn Ngọc T là người rủ rê và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp có vai trò cao hơn. Bạch Văn H giúp sức tích cực có vai trò thấp hơn T.

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Khi lượng hình, xét thấy các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tài sản trộm cắp đã thu hồi được nên có thể giảm nhẹ một phần hình phạt để các bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với anh Nguyễn Văn B1 và anh Nguyễn Viết B không biết chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha màu xanh đen của H là tài sản trộm cắp mà có và không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý anh B1 và anh B là có căn cứ.

Đối với chiếc biển kiểm soát T khai vứt tại cánh đồng xã X, huyện T, TP Hà Nội, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy, nên không thu hồi được.

Đối với chiếc xe nhãn hiệu Honda Dream mà T sử dụng để đi trộm cắp, T khai xe của T mua của người không quen biết, không nhớ biển kiểm soát, sau đó T đã bán cho người không quen biết. Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không xác định được, không có đề nghị gì nên Tòa không xét.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen do H và T trộm cắp là tài sản của anh Dương Văn T1. Ngày 10/4/2024, Cơ quan CSĐT đã ra quyết định trả cho anh T1 là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Anh T1 đã nhận lại chiếc xe mô tô bị trộm cắp, không có yêu cầu về bồi thường dân sự, không có yêu cầu khác, nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Ngọc T và Bạch Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 24 (hai bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/3/2024.

- Xử phạt: Bị cáo Bạch Văn H 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/02/2024.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 áo khoác màu xanh rêu, 01 áo khoác màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen kẻ sọc trắng, 01 đôi giày màu đen; 01 cà lê số 08 màu trắng (01 đầu tròn, 01 đầu móc), 01 đầu vam dẹt;

(Hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Tín, TP Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/5/2024).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Ngọc T và Bạch Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: Các bị cáo, người liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ