- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Khưu Thị Tuyết Sen với anh Đào Minh T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Khưu Thị Tuyết S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/4/2024 V/v: Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Điệp
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Phúc
2. Bà Nguyễn Thị Hằng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Long Hồ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ không tham gia phiên tòa .
Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 36/2024/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2024, về việc: “ Ly hôn, nuôi con ”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Khưu Thị Tuyết S, sinh năm 1991
Địa chỉ: Số 6/75C khóm A, phường Z, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn: Anh Đào Minh T, sinh năm 1984 ( vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 23/01/2024 và biên bản không tiến hành hòa giải được cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Khưu Thị Tuyết S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T qua quen biết tiến tới hôn nhân, hai bên chung sống năm 2019 nhưng không có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/3/2021. Sau khi kết hôn chị S chung sống bên gia đình anh T, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau khi sinh con vài tháng chị đã dẫn con về bên nhà cha mẹ ruột sinh sống, do vợ chồng bất đồng ý kiến thường cự cải nên không thể chung sống với nhau được nữa, chị và anh T đã không còn sống chung từ tháng 8/2021. Nay chị S yêu cầu ly hôn với anh Đào Minh T.
Về con chung: Có 01 con chung tên Đào Ngọc Tuyết H, sinh ngày 29/11/2020, chị S yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Tòa án đã gửi thông báo thụ lý và thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần triệu tập Đào Minh T đến Tòa án giải quyết vụ kiện, anh T không có ở nhà, cán bộ Thừa phát lại thông báo, niêm yết công khai theo quy định pháp luật, đến ngày làm việc anh T không đến và không gửi bản khai ý gì về việc chị S yêu cầu ly hôn với anh. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Đào Minh T vắng mặt Vì vậy căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Khưu Thị Tuyết S yêu cầu ly hôn, nuôi con với anh Đào Minh T, đây là quan hệ hôn nhân gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, anh Đào Minh T còn đăng ký hộ khẩu tại ấp Long Thuận B, xã Long Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ được quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần anh Đào Minh T để giải quyết vụ kiện, theo sự xác nhận của Công an xã P, anh Đào Minh T còn đăng ký hộ khẩu ấp Long B, xã P, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Xét anh Đào Minh T còn ở địa chỉ này từ đó cho đến nay, khi anh bỏ đi không thay đổi địa chỉ và không thông báo cho chị S biết địa chỉ mới, vì vậy Căn cứ khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017, nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án ly hôn này theo quy định của pháp luật.
Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử đã triệu tập lần hai anh Minh Tâm đến Tòa án xét xử, đến ngày xét xử lần hai anh T vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất giải quyết vắng mặt anh Đào Minh T.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Khưu Thị Tuyết S yêu cầu ly hôn với anh Đào Minh T cả hai có kết hôn với nhau được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/3/2021, nên đây hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Xét về mâu thuẫn tại phiên tòa hôm nay chị S khai vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, thường cự cãi nhau, dẫn chị đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sống, anh T vắng mặt phiên tòa. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, anh T đến Tòa án giải quyết vụ kiện ly hôn, anh T vẫn vắng mặt, chị S cho rằng khi ly hôn chị có thông báo cho anh T biết. Xét anh T không đến cũng như không cung cấp chứng cứ tài liệu gì cho Tòa án về việc có đồng ý ly hôn với chị S hay không xem như từ chối cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Xét vợ chồng chung sống phải yêu thương, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau, nhưng tình cảm giữa chị Khưu Thị Tuyết S và anh Đào Minh T đã mâu thuẫn trầm trọng, hiện nay cả hai không còn sống chung, mỗi người sống một nơi, hôn nhân không đạt được, đã vi phạm nghiêm trọng tình cảm vợ chồng. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Khưu Thị Tuyết S được ly hôn với anh Đào Minh T là có cơ sở chấp nhận được quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Đào Ngọc Tuyết H, sinh ngày 29/11/2020, hiện nay do chi Sen nuôi dưỡng, chị yêu cầu tiếp tục nuôi con, anh T bỏ đi không có ý kiến về chị S yêu cầu nuôi con. Xét cháu Tuyết H đang sống ổn định với chị S, để không xáo trộn cuộc sống của cháu Hương, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Đào Ngọc Tuyết H cho chị S tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân gia đình.
Anh Đào Minh T có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này, được quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Khưu Thị Tuyết S không yêu cầu anh Đào Minh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị S không yêu cầu giải quyết, anh T vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, 147, 177, 179, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Khưu Thị Tuyết S.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Khưu Thị Tuyết S được ly hôn với anh Đào Minh T.
2. Về nuôi con chung: Giao Đào Ngọc Tuyết H, sinh ngày 29/11/2020, cho chị Khưu Thị Tuyết S chăm sóc nuôi dưỡng.
Anh Đào Minh T có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Khưu Thị Tuyết S không yêu cầu anh Đào Minh T cấp dưỡng nuôi con, anh T vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Chị Khưu Thị Tuyết S phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0000743 ngày 23/01/2024 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, chị Khưu Thị Tuyết S đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Án xử sơ thẩm công khai báo cho các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đối với người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được thông báo, niêm yết tại nơi cư trú của người vắng mặt ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Long Hồ - TAND tỉnh Vĩnh Long - THADS huyện Long Hồ - Các đương sự ; - Lưu HSVA | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Hồng Điệp |