- Tranh chấp gì? án hình sự — "Biện Đức M phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TH, TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 57/2023/HSST Ngày: 29/08/2023 |
THỊ XÃ TH Độc Lập - Tự do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TH, TỈNH B
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hòa Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Quế 2. Bà Ngô Thị Hằng - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thúy - Thư ký - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Th tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Cao Khải - Kiểm sát viên. Ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Th mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 53/2023/HSST ngày 11/8/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2023 đối với: Bị cáo: Biện Đức M, sinh năm 1997 Nơi cư trú: Khu phố C, phường H, thị xã Th, tỉnh B. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Biện Văn B, Con bà: Nguyễn Thị T. Vợ, con: Chưa có. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: không Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/5/2023 đến ngày 01/6/2023 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ”. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại ở địa phương (Có mặt tại phiên toà). - Bị hại: Anh Hoàng Văn Kh, sinh năm 1989 Địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện Ch, tỉnh T. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt) - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1991 Địa chỉ: Khu phố T, phường Gi, thị xã Th, tỉnh B. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt) NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 01/01/2021, Anh Hoàng Văn Kh, ký hợp đồng thuê xưởng của ông Biện Văn B, sinh năm 1967 ở khu phố C, phường H, thị xã Th, tỉnh B để mở Công ty TNHH sản xuất và thương mại Bu lông Ốc vít M Tùng (Công ty M Tùng). Anh Kh cùng gia đình ở, sinh hoạt luôn tại xưởng. Buổi tối ngày 22/5/2023, anh Khiêm điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen đỏ, biển kiểm soát 22B2 – 126.03 về rồi dựng chiếc xe này ở vị trí gần cửa ra vào xưởng, đầu xe hướng vào trong, đuôi xe hướng ra ngoài cửa, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa. Sau đó, anh Kh đi ngủ. Biện Đức M, là con trai ông Biên. M trước đó có thời gian làm công nhân cho công ty M Tùng. Do không có tiền tiêu sài, M nảy sinh ý định đột nhập vào xưởng của Công ty M Tùng trộm cắp tài sản. Khoảng 01 giờ 15 phút ngày 23/5/2023, M đi bộ từ nhà sang khu vực xưởng Công ty M Tùng rồi mở cửa xưởng đi vào. Khi vào nhà xưởng, M nhìn thấy chiếc xe mô tô BKS 22B2 – 126.03 của anh Kh dựng trong xưởng, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa nên M nảy sinh ý định sẽ trộm cắp chiếc xe này. M dắt xe quay đầu ra ngoài rồi đi qua cửa xưởng ra ngoài đường nhựa. Sau đó, M đề nổ máy và điều khiển xe đến cửa hàng mua bán xe máy của anh Nguyễn Văn Tr. Tại đây, M hỏi vay của anh Tr số tiền 1.000.000 đồng và để lại chiếc xe mô tô của anh Khiêm làm tin. Do tin tưởng nên anh Trường đồng ý. Sau khi vay được số tiền 1.000.000 đồng, M đã tiêu sài cá nhân hết số tiền này. Đến khoảng 07 giờ ngày 23/5/2023, anh Khiêm phát hiện chiếc xe mô tô BKS 22B2 – 126.03 bị kẻ gian trộm cắp mất nên đã đến công an thị xã Th trình báo và tự nguyện giao nộp đăng ký xe mô tô số 060811 do Công an huyện Ch, tỉnh T cấp ngày 10/8/2017. Cùng ngày, M đã đến Công an thị xã Th đầu thú. Sau khi được Cơ quan CSĐT Công an thị xã Th thông báo chiếc xe mà M đặt làm tin là tài sản do trộm cắp mà có, ngày 23/5/2023, anh Tr đã tự nguyện giao nộp chiếc xe nêu trên. Ngày 23/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Th đã ra yêu cầu định giá tài sản số 90 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự định giá 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 22B2 – 126.03. Ngày 27/5/2023, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Th có bản kết luận định giá xác định giá trị của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 22B2 -126.03 có giá trị tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 23/5/2023 là 25.000.000 đồng. Bản cáo trạng số 56/CTr- VKS ngày 09/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Th đã truy tố Biện Đức M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Cũng tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Th duy trì công tố tại phiên tòa đã có đánh giá, phân tích đến hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đề cập đến những tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Biện Đức M theo tội danh và điều luật đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Biện Đức M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Biện Đức M từ 12 đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 32 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiện dân sự: Không đặt ra xem xét. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Phần tranh luận bị cáo nhận tội và không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Th, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Th, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Về tội danh, Hội đồng xét xử
nhận thấy: Tại phiên hôm nay bị cáo Biện Đức M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Khoảng 01 giờ 15 phút ngày 23/5/2023, Biện Đức M đã có hành vi lén lút đột nhập vào kho xưởng của Công ty TNHH sản xuất và thương mại Bu lông Ốc vít M T trộm cắp tài sản 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 22B2 – 126.03 trị giá 25.000.000 đồng của anh Hoàng Văn Kh. Hiện, Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng của vụ án và các tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đã lén lút cố ý thực hiện tội phạm với động cơ tư lợi, mục đích là chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài cá nhân. Do vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Biện Đức M phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là có giá trị và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do đó đối với bị cáo cần phải xét xử nghiêm trước pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. [3]. Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến Công an thị xã Th đầu thú. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự nhưng xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. [4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Hoàng Văn Khiêm vắng mặt tại phiên toà, xác định đã được nhận lại chiếc xe mô tô BKS 22B2 – 126.03 và đăng ký xe. Đến nay, anh Kh không có đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn Trường vắng mặt tại phiên toà, xác định có cho M vay số tiền 1.000.000 đồng, nhưng anh biết M có hoàn cảnh khó khăn nên không yêu cầu M phải trả lại số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 331, Điều 333, Điều 136 Bộ luật Tố tụng
hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án. 1. Tuyên bố: Bị cáo Biện Đức M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Biện Đức M 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Biện Đức M cho UBND phường H, thị xã Th, tỉnh B giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. 2. Về án phí: Bị cáo Biện Đức M phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm. 3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Nơi nhận: - TAND Tỉnh B - VKSND tỉnh B - VKSND thị xã Th - Công an thị xã Th - Chi cục T.H.A DS thị xã Th - Những người tham gia tố tụng Đã ký - Lưu HS-VPTA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Hòa 1 0 1 1 1 2 1 3 1 4 |