- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Viết H - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Lu…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết H phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 57/2023/HS-ST Ngày 17-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Ngọc Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Bà Hoàng Lệ Chi.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 12/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Viết H, sinh năm 1981 tại Thành phố Hà Nội; thường trú: Số B, đường Ph D, tổ dân phố số H, phường Ph D, quận B T L, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: Số M, đường H, Phường B, quận G V, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Vũ Thị L, sinh năm 1956; bị cáo có 03 chị ruột, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1978; có vợ tên là Trần Thị L, sinh năm 1985, có 02 con ruột, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:
- Ngày 10/7/1998, bị Tòa án nhân dân huyện T L (nay là quận B T L), Thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản của công dân, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 46/HSST.
- Ngày 23/9/2010, bị Công an quận B Đ, Thành phố Hà Nội ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 150.000 đồng về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo Quyết định số 216678/QĐXP, đóng tiền phạt ngày 28/9/2010.
Bị cáo tại ngoại; có mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Hồng Nh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 09 giờ 30 phút ngày 17/6/2022, Công an phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương nhận được tin báo về việc tại Văn phòng công chứng “Nguyễn Thị Hồng Nh” thuộc khu phố B Đ 2, phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Nguyễn Viết H có hành vi sử dụng 01 Căn cước công dân giả để công chứng tại Văn phòng công chứng. Cùng ngày, Công an phường A B báo cho Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố D A tiếp nhận vụ việc để điều tra, xử lý.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng tháng 5 năm 2022, Nguyễn Viết H có nhu cầu làm thêm 01 Căn cước công dân nên H đã lên mạng internet tìm hiểu, H được một người tên Th (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 0379.611.512 liên hệ. Th báo giá với H chi phí làm giả căn cước công dân số tiền là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) thì H đồng ý. Sau đó, thông qua một người đàn ông lái xe grab (không rõ nhân thân, lai lịch), Th gửi cho H một tờ giấy để H lăn tay, đồng thời để H cung cấp thông tin cá nhân: họ và tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, địa chỉ cho Th, rồi H đưa cho người đàn ông lái xe grab để giao lại cho Th. Khoảng đầu tháng 6 năm 2022, một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) điện thoại hẹn H đến chân cầu vượt Phạm Văn Đ thuộc thành phố Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh để nhận căn cước công dân, đúng hẹn H đến gặp người phụ nữ này nhận căn cước công dân và trả số tiền 3.000.000 đồng. Ngày 17/6/2022, do cần hồ sơ để thuê nhà nên H mang căn cước công dân làm giả đến Văn phòng công chứng “Nguyễn Thị Hồng Nh” tại phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương để công chứng thì bị phát hiện.
* Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Viết H số 001081008089 (lưu trong hồ sơ vụ án) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro màu xanh đen, sim số 0852566686.
* Tại Kết luận giám định số: 282/KL-KTHS (TL) ngày 28/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Căn cước công dân số 001081008089, họ và tên Nguyễn Viết H, sinh năm 1977, nơi thường trú: Ngách 8/196, phường Qu H, quận C G, Hà Nội đề ngày 17/5/2021 là giả.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định số: 282/KL-KTHS (TL) ngày 28/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.
Đối với người đàn ông tên Th giúp H làm giả Căn cước công dân và người phụ nữ đưa căn cước công dân cho H, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số: 40/CT-VKS-DA ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố Nguyễn Viết H về tội “Làm giả con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Viết H về tội “Làm giả con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Viết H từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro màu xanh đen kèm theo sim số 0852.566.686 của bị cáo H sử dụng để liên lạc với người đàn ông tên Th và người phụ nữ để làm giả Căn cước công dân nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước đối với điện thoại di động Iphone 12Pro max màu xanh đen và tịch thu tiêu hủy sim số 0852.566.686 .
- Đối với 01 (một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Viết H số 001081008089, là vật chứng trong vụ án đề nghị tịch thu lưu hồ sơ.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và xử lý vật chứng đồng thời trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo; người làm chứng; biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, Kết luận giám định số 282/KL-KTHS (TL) ngày 28/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng tháng 5 năm 2022, Nguyễn Viết H sử dụng mạng internet tìm hiểu, liên hệ với người đàn ông tên Th (chưa rõ nhân thân, lai lịch), H cung cấp thông tin cá nhân để làm giả 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Viết H với số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Ngày 17/6/2022, Nguyễn Viết H mang Căn cước công dân giả đến Văn Phòng công chứng “Nguyễn Thị Hồng Nh” tại địa chỉ số 18-20 đường số H, khu nhà ở H S 2, thuộc khu phố B Đ 2, phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương để công chứng thì phát hiện thu giữ.
Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo làm giả 01 Căn cước công dân, đã đủ yếu tố cấu thành “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 40/CT – VKS-DA ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Nguyễn Viết H về tội “Làm giả con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, đối với hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Xét thấy, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Viết H khai nhận: Bị cáo cung cấp thông tin cá nhân, lăn tay để cho người đàn ông tên Th để làm giả 01 Căn cước công dân với giá 3.000.000 đồng, mục đích để bị cáo làm hợp đồng thuê nhà, nhưng chưa thực hiện được thì bị phát hiện. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo về hành vi “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là chưa phù hợp.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi làm căn cước công dân giả mục đích để làm hợp đồng thuê nhà, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo là người đã từng bị Tòa án xét xử về tội Trộm cắp tài sản của công dân và bị Công an xử phạt về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nghề nghiệp ổn định, có nơi cư trú rõ ràng, động cơ, mục đích phạm tội là để làm hợp đồng thuê nhà, đồng thời trong thời gian tại ngoại bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương. Vì vậy, việc không cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian cũng không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm tại địa phương, nên quyết định áp dụng loại hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú. Do áp dụng hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo nên cần hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 39/2022/HSST-LCĐKNCT ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Xét 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro màu xanh đen kèm theo sim số 0852.566.686 của bị cáo H sử dụng để liên lạc với người đàn ông tên Th để làm giả Căn cước công dân nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước đối với điện thoại và tịch thu tiêu hủy sim số 0852.566.686.
- Đối với 01 (một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Viết H số 001081008089, là vật chứng trong vụ án đề nghị tịch thu lưu hồ sơ.
Đối với người đàn ông tên Thiện giúp H làm giả căn cước công dân và người phụ nữ đưa căn cước công dân cho H, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, xét động cơ mục đích phạm tội của bị cáo nên Hội đồng áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết H phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NĐ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NĐ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Hưng 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân Phường B3, quận G V, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Viết H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 39/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro màu xanh đen (không kiểm tra được tình trạng bên trong).
- Tịch thu tiêu hủy sim số 0852.566.686.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/01/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Viết H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒÀ