- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thanh D “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Nguyễn Thị Thanh D 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2023/HS-ST Ngày 20-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Đậm - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 67/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thanh D, sinh ngày X tháng Y năm 199Z tại T. ĐKHKTT: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh T; chỗ ở hiện nay: Thôn Quan Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh T; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn C và bà Vũ Thị V; có chồng là Nguyễn Xuân D (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/3/2023; có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH A; địa chỉ: Đường H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại: Ông Vũ Hồng Qu; địa chỉ: Đường Đ, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng (theo giấy ủy quyền số AL/2021/088 ngày 30/8/2021), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 18/12/2022, Nguyễn Thị Thanh D đi taxi một mình đến Trung tâm bách hóa tổng hợp và siêu thị A, Lê Chân, Hải Phòng (thuộc Công ty TNHH A Việt Nam, 100% vốn nước ngoài) để mua sắm hàng hoá. Khi lên tầng 2, D quan sát thấy không có nhân viên trông coi, giám sát các quầy hàng, nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. D đã mua sắm ở siêu thị nhiều lần và biết khi thanh toán, nhân viên thu ngân sẽ cho sản phẩm vào túi ni lông có dán tem đã thanh toán rồi đưa lại cho người mua nên D đã mua 01 chiếc áo lông rồi thanh toán. Sau đó, D tiếp tục chọn 33 loại sản phẩm hàng hóa gồm: quần, áo, túi xách, kính mắt, dây buộc tóc, tất, dép, kẹp tóc… rồi cho tất cả các sản phẩm hàng hóa đã chọn vào túi ni lông có chứa chiếc áo lông đã thanh toán và đi về thì bị lực lượng an ninh của siêu thị bắt quả tang cùng tang vật, bàn giao cho Công an phường Kênh Dương, quận Lê Chân để xử lý.
Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 17/01/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận L kết luận giá trị các sản phẩm, hàng hóa mà D trộm cắp bị bắt quả tang và thu giữ là: 5.195.200 đồng.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 05/CT-VKS-P3 ngày 07/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, việc truy tố xét xử bị cáo là không oan.
Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, điểm h,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh D từ 9-12 tháng cải tạo không giam giữ; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về án phí và quyền kháng cáo đề nghị tuyên theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin được hưởng khoan hồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Vũ Hồng Q vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của người đại diện hợp pháp của bị hại không gây trở ngại đến việc giải quyết vụ án, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại.
Về tội danh: Căn cứ vào lời khai, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 12/12/2022, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của Công ty TNHH A Việt Nam - chi nhánh Hải Phòng, Nguyễn Thị Thanh D đã lén lút chiếm đoạt của công ty một số tài sản là quần, áo, túi xách, kính mắt, dây buộc tóc, tất, dép, kẹp tóc… trị giá 5.195.200 đồng bị bắt quả tang. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thị Thanh D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Việc truy tố của Viện kiểm sát thành phố Hải Phòng về tội danh cũng như điều luật áp dụng là đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được pháp luật bảo vệ nên cần thiết đưa ra xét xử nghiêm để răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về quyết định hình phạt: Bị cáo nhân thân không tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn và đã được thu hồi; được hưởng 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, có thể cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội theo đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đồng thời cũng đủ răn đe phòng ngừa tội phạm được quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo có mức độ, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và không khấu trừ thu nhập theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự, vật chứng của vụ án: Công ty TNHH A Việt Nam - chi nhánh Hải Phòng đã nhận lại tài sản trộm cắp, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường do vậy HĐXX không xét, giải quyết.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật; Bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Thị Thanh D 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Đồng Tiến, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh T nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thanh D cho Ủy ban nhân dân xã Đồng Tiến, huyện Quỳnh Phụ, Tỉnh T giám sát giáo dục, theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
(Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án Hình sự).
- Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh D.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại Công ty TNHH A chi nhánh Hải Phòng có quyền kháng cáo trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TANDCC; VKSNDCC; - Vụ 1 – TANDTC; - VKSND TP Hải Phòng; - PV06 Công an TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - Sở Tư pháp TPHP; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Phòng KTNV và THA; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hà |