vanban.org

Bản án 57/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 18/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng và hình phạt

Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2023. Về án phí: Bị cáo Trần Văn Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Đông trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2023/HS-ST
Ngày 18 tháng 8 năm 2023

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Hay.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Đặng Ngọc Hương;

2/ Ông Nguyễn Nam Lương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Tạ Việt Đức – Kiểm sát viên.

Vào ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2023/TLST – HS, ngày 31 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

Trần Văn Đ, sinh năm: 1987, tại: C, Khánh Hòa; nơi cư trú: Tổ dân phố K, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B và bà Võ Thị N; vợ Lê Thị Tường V, có 01 con sinh năm 2011.

Tiền sự: Ngày 28/01/2022, bị Công an huyện C ban hành quyết định xử phạt hành chính số 218/QĐ – XPHC với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2023 đến nay. Có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Ông Trần Anh T – Sinh năm: 2000

Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Trương Văn T1, sinh năm: 1995

Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường C, thành phố C. Vắng mặt tại phiên toà. Vắng mặt tại phiên toà.

- Ông Trần Văn T2, sinh năm: 1990

Nơi cư trú: Tổ dân phố K, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.Vắng mặt tại phiên toà.

* Người làm chứng:

- Ông Phạm Quốc P, sinh năm: 1991;

Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an tỉnh K trong một vụ án khác. Vắng mặt tại phiên toà.

- Ông Nguyễn Minh T3, sinh năm: 1986

Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn Đ đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 28/01/2022. Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 30/8/2022, Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79C1 – 419.94 của Trần Văn T2 (em trai Đ) đến nhà ông Đỗ Minh T4 ở tổ dân phố L, phường C. Tại đây, Đ thấy trước nhà ông T4 có treo 02 lồng chim bằng gỗ, bên trong mỗi lồng chim có 01 con chim chào mào của anh Trần Văn T5 (con rễ ông T4), không có người trông coi. Đông dựng xe trước công, dùng tay tháo móc khoá cổng đi vào lấy 01 lồng chim. Sau đó, Đ mang lồng chim đến bán cho ông Trương Văn T1 ở tổ dân phố T, phường C với giá 300.000 đồng. Khi bán được chim, Đ rủ Phạm Quốc P đi mua ma tuý của người có tên CuRu (chưa rõ lai lịch) để sử dụng. Sau khi sử dụng xong ma tuý, Đ rủ P đến nhà ông T4 để lấy trộm lồng chim còn lại thì P đồng ý. Khi Đ và P đang đứng trước cửa nhà ông T4 thì bị ông T5 (con ông T4) phát hiện.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 122 ngày 28/9/2022 kết luận: 01 lồng chim hình vuông, bằng gỗ kích thước (33x33x46)cm trị giá 1.282.500 đồng; 01 khăn choàng bằng vải màu xanh, có hoa văn rằn ri trị giá 95.000 đồng; 01 con chim chào mào trống, màu xám, chim đã trưởng thành trị giá 250.000 đồng. Tổng cộng là 1.627.500 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 46/CT-VKSCR-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 06 đến 09 tháng tù. Về vật chứng:

- Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Janus, màu đen, số khung: RLCSE810HY038068, số máy: E3X8E – 038067, biển số 79C1 – 419.94 đã trả lại cho chủ sỡ hữu ông Trần Văn T2.

- 01 lồng chim bằng gỗ, hình vuông, kích thước (33cm x 33cm x 46cm); 01 khăn trùm bằng vải màu xanh, có hoa văn rằn ri đã trả lại cho chủ sở hữu ông Trần Anh T.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì về đề nghị của Đại diện viện kiểm sát; lời nói sau cùng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường thiệt hại thêm nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ được và các chứng cứ khác đã được Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập. Có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 30/8/2022, tại nhà ông Đỗ Minh T4 ở tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Trần Văn Đ là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản đã tiếp tục có hành vi trộm cắp của ông Trần Anh T 01 lồng chim hình vuông, bằng gỗ kích thước (33x33x46) cm trị giá 1.282.500 đồng; 01 khăn choàng bằng vải màu xanh, có hoa văn rằn ri trị giá 95.000 đồng; 01 con chim chào mào trống, màu xám, chim đã trưởng thành trị giá 250.000 đồng. Tổng cộng là 1.627.500 đồng.

Hành vi của bị cáo Trần Văn Đ đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, phần tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác với mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân mà còn gây mất trật tự ở địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu, vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục cho bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, trở thành người có ích cho xã hội, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo nên áp dụng quy định tại điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước mà tích cực cải tạo, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Các vật chứng của vụ án đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên không xem xét xử lý.

Về án phí: Bị cáo Trần Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về điều luật áp dụng và hình phạt

Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 173; h, i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2023.

2.Về án phí: Bị cáo Trần Văn Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

- Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ