- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn S- Trộm căp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2023/HS-ST Ngày 19 -7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tân Việt
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lĩnh
Ông Đinh Văn Thân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngoãn - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Nhẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo: Lò Văn S, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1999 tại Thuận Châu - Sơn La; nơi cư trú: Bản X, xã Tường Thượng, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cháu Văn K (đã chết); con bà: Lò Thị L; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: bị cáo học hết lớp 9 thì nghỉ học, làm nghề lao động tự do tại địa phương; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/4/2023 đến ngày 28/4/2023, được tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn”cấm đi khỏi nơi cư trú”; “có mặt”.
- Bị hại:
+ Anh Giàng A S, sinh năm 2000, nơi cư trú: Bản Kim Bon, xã Kim Bon, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; “vắng mặt”.
+ Anh Giàng A Ph, sinh năm 1997, nơi cư trú: Bản Kim Bon, xã Kim Bon, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; “vắng mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1987, nơi cư trú: Bản Tân ba, xã Gia Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/4/2023, bị cáo Lò Văn S đi soi cá ở bờ lòng hồ sông Đà (thuộc địa phận bản Chăn, xã Tường Thượng, huyện Phù Yên) thì nhìn thấy hai chiếc xe mô tô dựng ở đường nội đồng. Quan sát xung quanh thấy không có người, đồng thời phát hiện thấy chiếc xe mô tô BKS: 26D1 – 371.18 không khóa cốp yên xe nên bị cáo S đã nhấc yên xe lên thì thấy bên trong cốp xe có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50, liền cầm lấy và đút vào túi quần. Sau đó, bị cáo S thấy chiếc xe máy BKS: 26D1 – 287.26 bị hỏng khóa yên nên S mở ra thì thấy bên trong cốp xe có 01 Samsung Galaxy A72, liền cầm chiếc điện thoại đút vào túi quần rồi đi về nhà. Sáng ngày 24/4/2023, S mang 02 chiếc điện thoại đến bán cho anh Nguyễn Hữu Hải, sinh năm: 1987, nơi cư trú: bản Tân Ba, xã Gia Phù, huyện Phù Yên được số tiền 450.000 đồng. Sau khi bị mất điện thoại, sáng ngày 24/4/2023 anh Sử và Phay đi tìm thì phát hiện 02 chiếc điện thoại của mình ở cửa hàng kinh doanh điện thoại của anh Hải. Khi biết chủ sở hữu đã biết được sự việc, S đã đến gặp anh Hải chuộc lại 02 chiếc điện thoại (bị cáo S đã trả lại anh Hải số tiền 450.000 đồng). Bị cáo S đã trả lại cho anh Phay chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A72 (sau đó anh Phay giao nộp chiếc điện thoại cho cơ quan công an xã Tường Thượng), còn chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A50, bị cáo trực tiếp giao nộp cho Công an xã Tường Thượng.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La quyết định trưng cầu định giá tài sản. Tại bản kết luận định giá tài sản số 16/KL-ĐGTS ngày 26/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản- UBND huyện Phù Yên kết luận: chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A50 có trị giá là: 1.700.000 đồng, chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A72 có trị giá là: 3.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Với những tình tiết như trên, tại Cáo trạng số: 37/CT – VKS ngày 22/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã truy tố Lò Văn S về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn S khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Kết thúc việc xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Hành vi của bị cáo Lò Văn S đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn S từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Giàng A Phay chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A72 và trả lại cho anh Giàng A Sử chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A50.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lò Văn S nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên.
Bị hại có đơn đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Hữu Hải xác nhận là người mua 02 chiếc điện thoại di động bị cáo S mang đến bán với giá 450.000 đồng. Bị cáo S đã chuộc lại 02 chiếc điện thoại và đã trả lại cho anh khoản tiền 450.000 đồng. Anh Hải không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác.
Kết thúc tranh luận, bị cáo trình bày lời nói sau cùng, bị cáo Lò Văn S đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn S khai nhận đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản, lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A72 của anh Giàng A Phay và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 của anh Giàng A Sử. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại cũng như của những người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Theo kết luận định giá tài sản, chiếc điện thoại di động của anh Giàng A Sử có trị giá 1.700.000 đồng. Chiếc điện thoại di động của anh Giàng A Phay có trị giá 3.000.000 đồng. Tổng trị giá hai chiếc điện thoại di động là 4.700.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự thì “ Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Như vậy, hành vi của bị cáo S đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội không lớn. Tuy nhiên, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ sở hữu tài sản của cá nhân, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là trái pháp luật. Tuy nhiên, do hám lợi trước mắt, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý phạm tội.
Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, bản thân là người dân tộc thiểu số, học hết lớp 9 thì nghỉ học ở nhà làm nghề lao động tự do.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; được bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt nêu trên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, cho nên không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tại trại giam. Việc giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục vẫn đảm bảo cải tạo bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là người lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, sống phụ thuộc vào bố mẹ (bút lục số 111). Cho nên, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng, Cơ quan cảnh sát điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho anh Giàng A Phay chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A72 và trả lại cho anh Giàng A Sử chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A50 là chủ sở hữu hợp pháp, Hội đồng xét xử cần ghi nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt là 02 chiếc điện thoại di động, bị hại đã nhận lại. Tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Nguyễn Hữu Hải, việc mua 02 chiếc điện thoại di động là ngay tình, anh Hải không biết chiếc điện thoại di động là do bị cáo S phạm tội mà có. Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với anh Hải là có căn cứ, đúng pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, anh Hải đã nhận lại khoản tiền 450.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự;
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn S 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 19/7/2023).
Giao bị cáo Lò Văn S cho UBND xã Tường Thượng, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Bị cáo Lò Văn S có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Ghi nhận quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan cảnh sát điều tra về việc trả lại cho anh Giàng A Phay chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A72 và trả lại cho anh Giàng A Sử chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A50 là chủ sở hữu hợp pháp.
3. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lò Văn S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/7/2023); Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị hại (nếu có);
- VKSND huyện Phù Yên; Giao
- Người bào chữa (nếu có);
- TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh;
- Cơ quan điều tra- CA huyện ;
- Bộ phận hồ sơ NV- CA huyện;
- CQ Thi hành án hình sự;
Gửi
Hoàng Tân Việt
- Trại TG (nhà tạm giữ);
- Sở tư pháp tỉnh;
- Người có QL,NVLQ;Nguyên đơn ds (nếu có);
- Chi cục THADS huyện (án có hiệu lực);
- Lưu: HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại (nếu có); - VKSND huyện Phù Yên; Giao - Người bào chữa (nếu có); - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Cơ quan điều tra- CA huyện ; - CQ Thi hành án hình sự; Gửi - Trại TG (nhà tạm giam); - Sở tư pháp tỉnh; - Người có QL,NVLQ (nếu có); - Chi cục THADS huyện (án có hiệu lực); - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tân Việt |