- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quan Thanh Liêm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quan Thanh L phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| huy n M XuyênTOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH SÓC TRĂNG __________ Bản án số: 57/2023/HS-ST Ngày: 06/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái M .
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hồng Phượng.
Ông Huỳnh Văn Hi p.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tiểu Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huy n M, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Nhường – Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n M, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023 đối với:
- Bị cáo: Quan Thanh L (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 29/6/1990.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp 1, thị trấn L, huy n L, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hi n nay: Số 584, đường L, khóm 4, phường 4, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghi p: Mua bán; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Quan Hữu D, sinh năm 1967 (C) và bà Trần Thị X, sinh năm 1966 (S); Vợ: Trần Thị Thúy H, sinh năm 1991; Con: 01 người (sinh năm 2022); Anh, chị em ruột: có 03 người (lớn nhất là bị cáo; nhỏ nhất sinh năm 1997); Tiền án: 01 tiền án, bị Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng tuyên xử 09 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tại bản án số 82/2022/HS-ST ngày 13/7/2022, chấp hành xong hình phạt ngày 14/3/2023, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Có 05 tiền sự (trong đó, bị Tòa án nhân dân huy n L quyết định áp dụng bi n pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghi n bắt buộc tại quyết định số 03/QĐ-TA ngày 28/8/2018, thời hạn 24 tháng, chưa được xóa tiền sự; quyết định áp dụng bi n pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghi n bắt buộc tại quyết định số 24/QĐ-TA ngày 05/8/2020, thời hạn 24 tháng, chưa được xóa tiền sự; bị Ủy ban nhân dân thị trấn L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19/QĐ-XPVPHC ngày 25/4/2022 về hành vi trộm cắp tài sản với mức tiền phạt 2.500.000 đồng, chưa chấp hành quyết định; Tòa án nhân dân huy n L quyết định áp dụng bi n pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghi n bắt buộc tại quyết định số 10/QĐ-TA ngày 21/6/2023, thời hạn 24 tháng, chưa được xóa tiền sự; bị công an huy n L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 03/7/2023 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với mức tiền phạt 1.500.000 đồng, chưa chấp hành quyết định. Bị cáo bị bắt quả tang và bị áp dụng bi n pháp ngăn ch n tạm giữ từ ngày 12/8/2023, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay (bị cáo có m t).
- Bị hại: Ông Hứa Minh Đ, sinh năm 1985 (vắng m t).
Địa chỉ: Ấp H, thị trấn M, huy n M, tỉnh Sóc Trăng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1991 (có m t).
Địa chỉ: Số 174/71, đường 30/4, khóm 2, phường 3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Đang cai nghi n bắt buộc tại Cơ sở cai nghi n ma túy tỉnh Sóc Trăng - Trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và X hội tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: Số 80 đường Hồ Nước Ngọt, khóm 2, phường 5, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
2/ Ông Dương Thanh H1, sinh năm 1964 (vắng m t).
Địa chỉ: Số 1105, đường 30/4, khóm 1, phường 3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
3/ Ông Lương N T, sinh năm 1985 (có m t).
Địa chỉ: Số 402, đường L, khóm 3, phường 4, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Người làm chứng:
1/ Ông Vương Khánh Q, sinh năm 1988 (vắng m t).
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn M, huy n M, tỉnh Sóc Trăng.
1/ Ông Danh Hoàng T1, sinh năm 1988 (vắng m t).
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn M, huy n M, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền để tiêu xài cá nhân và sử dụng chất ma túy, nên vào khoảng 09 giờ ngày 12/8/2023, Quan Thanh L đi đến chợ M thuộc thành phố S và g p Nguyễn Thành N rủ N đi tìm tài sản của người khác lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng thì N đồng ý. Sau đó, Quan Thanh L điều khiển xe mô tô loại xe tay ga, hi u nh n hi u SYM, số loại ENJOY, màu nâu, gắn biển số 83H7- 8559 (xe của Quan Thanh L) chở Nguyễn Thành N ngồi phía sau đi từ chợ M, thành phố S về hướng thị trấn M để tìm nhà người dân không có người trông coi vào trộm tài sản. Khi bị cáo L và N đi qua cầu Thạnh Lợi, rẽ phải đi vào đường lộ đal thuộc Ấp T, thị trấn M, huy n M thì L và N nhìn thấy căn chòi của ông Hứa Minh Đ không có người trông coi, L và N thống nhất cùng nhau vào căn chòi của ông Đ lấy trộm tài sản. L và N dừng xe lại đậu gần đó rồi đi đến căn chòi thấy có khóa ngoài nên Nguyễn Thành N dùng tay giật mạnh cửa chòi, làm cửa chòi bung ra, sau đó N và L đi vào bên trong chòi cùng nhau lấy trộm được một cái máy cắt cỏ nh n hi u Kamatsu, màu đỏ, loại 02 thì, công xuất 1.600 KW; 01 cái mô tưa nh n hi u Bảo Long, màu xám, loại 02 HP, sử dụng đi n 1 pha và 01 cái hộp giảm tốc nh n hi u Disoco GT 15, màu xanh. Sau khi lấy được tài sản thì cả hai điều khiển xe đi về thành phố S, khi đi đến vựa thu mua phế li u của ông Dương Thanh H1 (tại số 1105, đường 30/4, Khóm 1, Phường 3, thành phố S) thì L và N vào bán cái hộp giảm tốc được số tiền 247.000 đồng. Sau đó, Quan Thanh L và Nguyễn Thành N mang cái mô tưa đến bán cho ông Lương N T (tại số 402, đường L, Khóm 3, Phường 4, thành phố S) được 250.000 đồng. Sau khi bán cái mô tưa xong thì cả hai đi đến một ti m chuyên thu mua, sửa chữa máy ở cuối đường Tôn Đức Thắng thuộc ấp T1, xã T2, huy n L, tỉnh Sóc Trăng bán cái máy cắt cỏ được 300.000 đồng. Khi bán các tài sản lấy trộm nêu trên thì L chia cho N số tiền 397.000 đồng, còn L thì được 400.000 đồng. Số tiền có được L tiêu xài hết 368.000 đồng.
Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Quan Thanh L một mình tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 83H7-8559 đến căn chòi của ông Hứa Minh Đ để tìm tài sản lấy trộm. L vào chòi nhìn thấy có 03 cái mô tưa (trong đó gồm 02 cái nh n hi u VTC màu xám, loại 1,5 HP dùng để chạy quạt (đang được gắn cố định bằng ốc vít trên nền cây gỗ) và 01 cái mô tưa bơm nước, nh n hi u cá sấu, màu xanh, loại 01 HP). L lấy cây chìa khóa 17 có sẵn trong chòi mở từng con ốc vít ra, sau khi mở được 02 cái mô tưa xong thì L ôm ra từng cái bỏ vào trong bao. Sau đó, bị cáo L tiếp tục vào chòi lấy thêm 01 cây cưa gỗ và 02 cây chìa khóa 17 bỏ trong túi quần rồi vác 03 cái mô tưa vừa lấy trộm được đi ra chỗ đậu xe chất lên baga xe, còn 02 cây chìa khóa 17 và cây cưa thì bị cáo L bỏ vào trong cốp xe. Sau đó, bị cáo điều khiển xe chạy ra hướng cầu Thạnh Lợi. Khi vừa điều khiển xe đi được một đoạn thì bị ông Hứa Minh Đ cùng người dân phát hi n bắt giữ và giao cho Công an thị trấn M tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Quá trình làm vi c thì Quan Thanh L đ thừa nhận hành vi phạm tội như đ nêu trên.
Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huy n M, tỉnh Sóc Trăng đ thu giữ vật chứng và trao trả cho chủ sở hữu là ông Hứa Minh Đ gồm:
- 01 cái mô tưa nh n hi u cá sấu, màu xanh, loại 01 HP, đ qua sử dụng.
- 02 cái mô tưa nh n hi u VTC, màu xám loại 1,5HP, đ qua sử dụng.
- 01 cái mô tưa đi n nh n hi u Bảo Long, loại 02 HP, màu xám, đ qua sử dụng.
- 01 cái hộp giảm tốc, nh n hi u DISOCO GT 15, màu xanh xám, đ qua sử dụng.
- 02 cây chìa khóa 17 bằng kim loại, chiều dài 21 cm, đ qua sử dụng.
- 01 cây cưa gỗ cầm tay, cán bằng nhựa màu trắng đen, chiều dài 53 cm đ qua sử dụng.
Vật chứng của vụ án đ thu giữ của bị cáo Quan Thanh L hi n còn quản lý gồm:
- 01 chiếc xe mô tô đ qua sử dụng gắn biển số 83H7-8559, nh n hi u SYM, số loại ENJOY, màu nâu, số máy VMKADA-D 110802, số khung ADAD110802, còn hoạt động, trầy xướt nhiều nơi.
- 01 cái đi n thoại di động đ qua sử dụng nh n hi u OPPO màu vàng (đ bị hỏng).
- 01 cây búa thầu, cán bằng gỗ, chiều dài 21 cm, đ qua sử dụng.
- 01 cây dao yếm bằng kim loại, chiều dài 25,5 cm, đ qua sử dụng.
- 01 cây dao bấm cán bằng kim loại, chiều dài 21 cm, đ qua sử dụng.
- 01 cây dao Thái Lan, có quấn băng keo màu đen ở bên ngoài, chiều dài 22 cm, đ qua sử dụng
- 01 cây kềm cán bằng nhựa màu đỏ, chiều dài 18 cm, đ qua sử dụng.
- 01cây tua vít cán bằng nhựa màu đỏ, chiều dài 23 cm, đ qua sử dụng.
- 01 cây kéo cán bằng nhựa màu xanh, chiều dài 19,5cm, đ qua sử dụng.
- 01 cây chìa khóa 17 bằng kim loại, chiều dài 17 cm, đ qua sử dụng, bị rỉ sét nhiều nơi.
- Tiền Vi t Nam 32.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 34/KL-HĐĐGTS ngày 18/8/2023, của Hội đồng định giá tài kết luận:
- 01 cái mô tưa nh n hi u Bảo Long, màu xám, loại 02 HP, sử dụng đi n 1 pha, đ qua sử dụng, còn hoạt động, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị mất trộm là 550.000 đồng.
- 01 cái giảm tốc nh n hi u Disoco GT 15, màu xanh, đ qua sử dụng, còn hoạt động, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị mất trộm là 500.000 đồng.
- 01 cái máy cắt cỏ, nh n hi u Kamatsu, màu đỏ, loại 02 thì, công xuất 1.600 KW, đ qua sử dụng, còn hoạt động, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị mất trộm là 650.000 đồng.
- 02 cái mô tưa có cùng nh n hi u VTC, màu xám, loại 1,5 HP, sử dụng đi n 01 pha, đ qua sử dụng, còn hoạt động, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị mất trộm là 1.100.000 đồng.
- 01 cái mô tưa nh n hi u cá sấu, màu xanh, loại 01 HP, sử dụng đi n 1 pha, đ qua sử dụng, còn hoạt động, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị mất trộm là 400.000 đồng.
- 01 cây cưa gỗ cầm tay mini, cán bằng nhựa màu trắng- đen, chiều dài 53cm, đ qua sử dụng, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị mất trộm là 130.000 đồng.
- 02 cây chìa khóa 17, bằng kim loại có chiều dài 21cm, đ qua sử dụng, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị mất trộm là 40.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị mất trộm vào ngày 12/8/2023 là 3.370.000 đồng. Riêng số tài sản do N và bị cáo L cùng lấy trộm vào buổi sáng ngày 12/8/2023 có giá trị là 1.700.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKSMX ngày 10/11/2023 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n M, tỉnh Sóc Trăng đ truy tố bị cáo Quan Thanh L về “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Quan Thanh L thừa nhận bị cáo đ 02 lần thực hi n hành vi lấy trộm tài sản của người khác trên khu vực thị trấn M, huy n M, cụ thể: Lần thứ nhất: Vào lúc 09 giờ ngày 12/8/2023, bị cáo cùng với Nguyễn Thành N lấy trộm của ông Hứa Minh Đ 01 cái máy cắt cỏ nh n hi u Kamatsu; 01 cái mô tưa nh n hi u Bảo Long và 01 cái hộp giảm tốc nh n hi u Disoco GT 15, có tổng giá trị qua định giá là 1.700.000 đồng. Lần thứ hai: Vào khoảng khoảng 14 giờ cùng ngày 12/8/2023, một mình bị cáo L tiếp tục lấy trộm của ông Hứa Minh Đ 03 cái mô tưa (trong đó gồm 02 cái nh n hi u VTC; 01 cái mô tưa bơm nước, nh n hi u cá sấu); 01 cây cưa gỗ cầm tay mini, cán bằng nhựa và 02 cây chìa khóa 17 bằng kim loại có chiều dài 21cm, có tổng giá trị qua định giá là 1.670.000 đồng. Số tiền mà bị cáo đ hưởng lợi từ vi c bán tài sản phạm tội mà có là 400.000 đồng, bị cáo đ tiêu xài hết 368.000 đồng, số tiền còn lại 32.000 đồng bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huy n M thu giữ.
Bị hại ông Hứa Minh Đ đ nhận lại được tài sản 01 cái mô tưa nh n hi u cá sấu, màu xanh, loại 01 HP, đ qua sử dụng; 02 cái mô tưa nh n hi u VTC, màu xám loại 1,5HP, đ qua sử dụng; 01 cái mô tựa đi n nh n hi u Bảo long, loại 02 HP, màu xám; 01 cái hộp giảm tốc, nh n hi u DISOCO GT 15, màu xanh xám; 02 cây chìa khóa 17 bằng kim loại, chiều dài 21cm; 01 cây cưa gỗ cầm tay, cán bằng nhựa màu trắng đen, chiều dài 53cm nên không yêu cầu bồi thường thi t hại. Riêng đối với 01cái máy cắt cỏ chưa thu hồi được thì ông Đ yêu cầu bị cáo bồi thường bằng giá trị định giá là 650.000 đồng.
Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người đ bỏ ra để mua tài sản do bị cáo bán và đ giao nộp lại tài sản cho Cơ quan điều tra là ông Danh Thanh H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 247.000 đồng, ông Lương N T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 250.000 đồng.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Quan Thanh L theo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Quan Thanh L phạm “Tội trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Quan Thanh L từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy: 01 cây búa thầu, cán bằng gỗ, chiều dài 21cm, đ qua sử dụng; 01 cây dao yếm bằng kim loại, chiều dài 25,5cm, đ qua sử dụng; 01 cây dao bấm cán bằng kim loại, chiều dài 21cm, đ qua sử dụng; 01 cây dao Thái Lan, có quấn băng keo màu đen ở bên ngoài, chiều dài 22cm, đ qua sử dụng; 01 cây kìm cán bằng nhựa màu đỏ, chiều dài 18cm, đ qua sử dụng; 01 cây tua vít cán bằng nhựa màu đỏ, chiều dài 23cm, đ qua sử dụng; 01 cây kéo cán bằng nhựa màu xanh, chiều dài 19,5cm, đ qua sử dụng; 01 cây chìa khóa 17 bằng kim loại, chiều dài 17cm, đ qua sử dụng, bị rỉ sét nhiều nơi; Giao trả cho bị cáo Quan Thanh L 01 cái đi n thoại di động đ qua sử dụng nh n hi u OPPO màu vàng (đ bị hỏng); Đối với 01 chiếc xe mô tô đ qua sử dụng gắn biển số 83H7-8559, nh n hi u SYM, số loại ENJOY, màu nâu, số máy VMKADA-D 110802, số khung ADAD110802, còn hoạt động, trầy xướt nhiều nơi do không xác định được chủ sở hữu nên giao cho Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ sẽ xử lý sau. Về trách nhi m dân sự: Bị hại ông Hứa Minh Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường thi t hại các tài sản đ nhận lại nên không đ t ra xem xét. Ghi nhận sự tự nguy n của bị cáo đồng ý bồi thường thi t hại giá trị 01 máy cắt cỏ nh n hi u Kamatsu, màu đỏ, loại 02 thì, công xuất 1.600 KW cho bị hại ông Hứa Minh Đ số tiền 650.000 đồng, bồi thường cho ông Danh Thanh H1 số tiền 247.000 đồng và bồi thường cho ông Lương N T số tiền 250.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án tuyên trách nhi m về án phí theo quy định.
Trong phần lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huy n M, Vi n kiểm sát nhân dân huy n M, Điều tra viên, Kiểm sát viên đ thực hi n theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hi n là hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị hại ông Hứa Minh Đ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Danh Thanh H1; người làm chứng ông Vương Khánh Q, ông Danh Hoàng T1 đ được Tòa án tri u tập hợp l , nhưng vắng m t không lý do. Xét thấy, tại giai đoạn điều tra bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng có tên nêu trên đ có lời khai và những chứng cứ đ thu thập, vi c vắng m t của họ không làm ảnh hưởng đến vi c xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử thống nhất căn cứ khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng m t bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng nêu trên.
Về nội dung:
Tại phiên tòa, bị cáo Quan Thanh L thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo; các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tình tiết khác của vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do không có tiền để tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên vào ngày 12/8/2023, bị cáo Quan Thanh L đ 02 lần thực hi n hành vi lén lút lấy trộm tài sản của ông Hứa Minh Đ, cụ thể như sau: Lần thứ nhất: Vào lúc 09 giờ ngày 12/8/2023, bị cáo cùng với Nguyễn Thành N lấy trộm của ông Hứa Minh Đ 01 cái máy cắt cỏ nh n hi u Kamatsu, màu đỏ; 01 cái mô tưa nh n hi u Bảo Long, màu xám và 01 cái hộp giảm tốc nh n hi u Disoco GT 15 có tổng giá trị qua định giá là 1.700.000 đồng. Lần thứ hai: Vào khoảng 14 giờ cùng ngày 12/8/2023, một mình bị cáo L tiếp tục lấy trộm của ông Hứa Minh Đ 03 cái mô tưa (trong đó gồm 02 cái nh n hi u VTC dùng để chạy quạt; 01 cái mô tưa bơm nước, nh n hi u cá sấu); 01 cây cưa gỗ cầm tay mini và 02 cây chìa khóa 17 bằng kim loại có chiều dài 21cm có tổng giá trị qua định giá là 1.670.000 đồng. Số tiền mà bị cáo đ hưởng lợi từ vi c bán tài sản phạm tội mà có là 400.000 đồng và chia cho Nguyễn Thành N số tiền 397.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Quan Thanh L đủ yếu tố cấu thành “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 54/CT-VKSMX ngày 10/11/2023 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n M, tỉnh Sóc Trăng đ truy tố bị cáo Quan Thanh L về “Tội trộm cắp tài sản” theo điểm a, b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét về hành vi phạm tội của bị cáo Quan Thanh L là nguy hiểm cho x hội, bị cáo đ nhiều lần xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại một cách trái pháp luật. Ngoài ra, bản thân bị cáo có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích và có tiền sự về hành vi trộm cắp chưa được xóa tiền sự. Nhưng đến ngày 12/8/2023 bị cáo tiếp tục nhiều lần lấy trộm tài sản của người khác. Do đó, cần phải xử lý bị cáo nghiêm trước pháp luật, nhằm để răn đe, giáo dục và phòng chống tội phạm.
Về tình tiết tăng n ng trách nhi m hình sự: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng n ng trách nhi m hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Xét bị cáo Quan Thanh L đ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; một số tài sản bị cáo lấy trộm đ được thu hồi kịp thời trả lại cho bị hại nên thuộc trường hợp phạm tội nhưng gây thi t hại không lớn. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ nêu trên cho bị cáo theo quy định tại điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhi m dân sự: Bị hại ông Hứa Minh Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường thi t hại đối với các tài sản bị lấy trộm nhưng đ thu hồi được nên không đ t ra xem xét. Riêng đối với 01 máy cắt cỏ chưa thu hồi được thì bị hại yêu cầu bồi thường bằng giá trị định giá là 650.000 đồng. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Thanh H1 đ tự nguy n giao nộp lại cho Cơ quan điều tra 01 cái hộp giảm tốc nh n hi u Disoco GT 15, màu xanh nhưng yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 247.000 đồng; ông Lương N T đ tự nguy n giao nộp lại cho Cơ quan điều tra 01 cái mô tưa nh n hi u Bảo Long, màu xám nhưng yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 250.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Quan Thanh L tự nguy n chịu trách nhi m bồi thường thi t hại theo yêu cầu của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên, không yêu cầu Nguyễn Thành N cùng liên đới trách nhi m bồi thường. Nên Hội đồng xét xử thống nhất ghi nhận sự tự nguy n của bị cáo, buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường thi t hại cho ông Hứa Minh Đ số tiền 650.000 đồng, hoàn trả cho ông Dương Thanh H1 số tiền 247.000 đồng và hoàn trả cho ông Lương N T số tiền 250.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) cây búa thầu, cán bằng gỗ, chiều dài 21cm, đ qua sử dụng; 01 (một) cây dao yếm bằng kim loại, chiều dài 25,5cm, đ qua sử dụng; 01 (một) cây dao bấm cán bằng kim loại, chiều dài 21cm, đ qua sử dụng; 01 (một) cây dao Thái Lan, có quấn băng keo màu đen ở bên ngoài, chiều dài 22cm, đ qua sử dụng; 01 (một) cây kềm cán bằng nhựa màu đỏ, chiều dài 18cm, đ qua sử dụng; 01 (một) cây tua vít cán bằng nhựa màu đỏ, chiều dài 23cm, đ qua sử dụng; 01 (một) cây kéo cán bằng nhựa màu xanh, chiều dài 19,5cm, đ qua sử dụng; 01 (một) cây chìa khóa 17 bằng kim loại, chiều dài 17cm, đ qua sử dụng, bị rỉ sét nhiều nơi;
- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô đ qua sử dụng gắn biển số 83H7-8559, nh n hi u SYM, số loại ENJOY, màu nâu, số máy VMKADA-D 110802, số khung ADAD110802, còn hoạt động, trầy xướt nhiều nơi do không xác định được chủ sở hữu nên cần giao cho Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.
- 01 (một) cái đi n thoại di động đ qua sử dụng nh n hi u OPPO màu vàng (đ bị hỏng) không phải là phương ti n, công cụ phạm tội nên giao trả cho bị cáo Quan Thanh L.
- Đối với số tiền bị cáo hưởng lợi bất chính từ vi c bán tài sản lấy trộm mà có 32.000 đồng tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thành N có hành vi cùng bị cáo Quan Thanh L trộm cắp tài sản của người khác. Tuy nhiên, lần trộm cắp tài sản của Nguyễn Thành N có giá trị qua định giá là 1.700.000 đồng chưa đủ định lượng, ngoài ra không thuộc các trường hợp khác quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n M không đ t ra xem xét với vai trò đồng phạm mà quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản là có căn cứ.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Danh Thanh H1, ông Lương N T có hành vi mua tài sản do bị cáo Quan Thanh L trộm cắp mà có. Tuy nhiên, khi mua tài sản trên thì ông Danh Thanh H1 và ông Lương N T không biết đây là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên chưa đủ căn cứ xem xét xử lý ông Danh Thanh H1 và ông Lương N T về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Lời đề nghị của vị Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà hôm nay là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và l phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Quan Thanh L phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
Căn cứ Điều 584, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự.
Tuyên xử:
[1] Xử phạt: Bị cáo Quan Thanh L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 12/8/2023.
[2] Về trách nhi m dân sự:
- Buộc bị cáo Quan Thanh L có nghĩa vụ bồi thường thi t hại cho ông Hứa Minh Đ số tiền 650.000 đồng; hoàn trả cho ông Danh Thanh H1 số tiền 247.000 đồng và hoàn trả cho ông Lương N T số tiền 250.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hi u lực pháp luật và ông Hứa Minh Đ, ông Dương Thanh H1, ông Lương N T có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo Quan Thanh L chậm trả số tiền nêu trên cho ông Hứa Minh Đ, ông Dương Thanh H1, ông Lương N T, thì bị cáo L phải trả thêm tiền l i đối với số tiền trả chậm theo mức l i suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 32.000 đồng.
- Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) cây búa thầu, cán bằng gỗ, chiều dài 21cm, đ qua sử dụng; 01 (một) cây dao yếm bằng kim loại, chiều dài 25,5cm, đ qua sử dụng; 01 (một) cây dao bấm cán bằng kim loại, chiều dài 21cm, đ qua sử dụng; 01 (một) cây dao Thái Lan, có quấn băng keo màu đen ở bên ngoài, chiều dài 22cm, đ qua sử dụng; 01 (một) cây kìm cán bằng nhựa màu đỏ, chiều dài 18cm, đ qua sử dụng; 01 (một) cây tua vít cán bằng nhựa màu đỏ, chiều dài 23cm, đ qua sử dụng; 01 (một) cây kéo cán bằng nhựa màu xanh, chiều dài 19,5cm, đ qua sử dụng; 01 (một) cây chìa khóa 17 bằng kim loại, chiều dài 17cm, đ qua sử dụng, bị rỉ sét nhiều nơi.
- Giao trả cho bị cáo Quan Thanh L: 01 (một) cái đi n thoại di động đ qua sử dụng nh n hi u OPPO màu vàng (đ bị hỏng).
- Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n M 01 (một) chiếc xe mô tô đ qua sử dụng gắn biển số 83H7-8559, nh n hi u SYM, số loại ENJOY, màu nâu, số máy VMKADA-D 110802, số khung ADAD110802, còn hoạt động, trầy xướt nhiều nơi dụng để xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.
[4] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Quan Thanh L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nộp tại Chi cục Thi hành án huy n M.
[5] Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với người vắng m t tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết công khai tại ủy ban nhân dân nơi cư trú) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - Công an tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huy n M; - THA huy n M; - CQ CSĐT-CA huy n M; - Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thị Tám Huỳnh Thị Cẩm Hồng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Ái Mỹ Nguyễn Thị Ái Mỹ |