vanban.org

Bản án 57/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước Tuyên án 21/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA!ÁNNHÂN!DÂN!
HUYỆN!HỚN!QUẢN!
TỈNH!BÌNH!PHƯỚC!
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:57/2023/HS-ST
Ngày21-7-2023

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!HỚN!QUẢN,!BÌNH!PHƯỚC!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa:Bà Nguyễn Thị Minh Hải

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:Ông Phạm Quốc Vượng

Bà Hoàng Thị Phương

- Thư ký phiên tòa:Bà Trần Thị Lan- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa:Ông Dường Văn Sáu- Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự sơ thẩmthụ lý số42/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số47/2023/QĐXXST-HS ngày22tháng5năm 2023 đốivới các bị cáo:

1. Điểu Trung D, sinh năm 2002tại Bình Phước; Nơi cư trú: Ấp S, xã T,

huyện H, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: X’Tiêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu N(đã chết)và bà Thị C, bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2023cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Điểu L, sinh năm 2002 tại Bình Phước; Nơi cư trú: Ấp S, xã T, huyện

H, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 01/12; dân tộc: X’Tiêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu B(Đã chết)và bà Thị N1(Đã chết), bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2023cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

3. Điểu Hoàng N2, sinh ngày 28/10/2005tại Bình Phước; Nơi cư trú: Ấp

B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 4/12; dân tộc: X’Tiêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu Phương K và bà Thị M, bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 26/9/2022, bị UBND xã T, huyện Hra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số195/QĐ-XPHC số tiền 1.250.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đã nộp phạt. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Đại diện theo pháp luật của bị cáo N2: Ông Điểu Phương K, sinh năm 1982 và bà Thị M, sinh năm 1985. Vắng mặt

Đchỉ: ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước

Người bào chữa: bà Trần Thị L1- trợ giúp viên pháp lý – trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B.

*"Người"bị"hại:"

- Công ty TNHH MTV C1

Địa chỉ: Quốc lộ A, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn V, sinh năm 1967 – Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Đức T, sinh năm 1980. Có mặt

Địa chỉ: Tổ E, Kp . X, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước

Theo Giấy ủy quyền số 75/UQ-CSBL ngày 03/02/2023

- Ông Lê Thái L2, sinh năm 1987. Vắng mặt

Địa chỉ: khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước

-!Ông Lê Đình T1, sinh năm 1986 và chị Nguyễn Đình Mỹ N3, sinh năm 1988. Vắng mặt!

Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước

*Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:"

Ông Hoàng Duy K1, sinh năm 1988. Vắng mặt

Địa chỉ: Tổ E, ấp I, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Điểu T, Điểu Lvà Điểu Hoàng N4là các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên các đối tượng đã rủ nhau thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã T và thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Cụ thểnhư sau:

Vụ!thứ!nhất: Khoảng 23h00 ngày 30/01/2023, Điểu Hđiều khiển xe mô tô đến chở Điểu Tcùng đi đến nhà của Điểu L, tại ấp S, xã T, huyện H để chơi. Tại đây,Drủ N4và Lđi đến Khu V thuộc ấp B, xã T, huyện Hđể trộm cắp cây mai bán lấy tiền tiêu xài thì N4và Lđồng ý.Dỹ điều khiển xe mô tô (kiểu dáng Wave Alpha, biển số: 93C1 – 256.31) chở Lvà N4ngồi phía sau. Khi đến trước cổng Khu văn hóa Thác số 4 thấy cổng chính đã đóng nên Dđiều khiển xe mô tô đi theo đường đất ven hông phía bên trái để đi vòng ra phía sau. Sau đó, Ddựng xe mô tô trong lô cao su rồi cùng với N4và Lđi bộ vào khu vực bên trong Khu văn hóa Thác số 4. Cả ba cùng nhau đi đến khu vực nhà truyền thống nhìn thấy có 02 cây mai(loại mai tứ quý), không có ai trông coi nên Dvà N4cùng nhau dùng tay nắm lấy gốc cây mai nhấc lên, cònLđứng phía sau nhà truyền thống để cảnh giới. Sau khi nhổ được gốc mai, cả 03 người cùng bê cây mai ra xe mô tô (cách vị trí nhổ gốc mai khoảng 95m). N4điều khiển xe mô tô về nhà Dlấy 01 con dao chặt tỉa các nhánh của cây mai. Sau đó, Dđiều khiển xe mô tô chở N4phía sau ôm cây mai vừa chiếm đoạt được mang đi bán, còn Lcầm con dao về nhà của Lđể cất. Dỹ và N4đi đến phường M, thị xã Cgặp anh Hoàng Duy K1, làm nghề mua bán cây cảnh để bán cây mai. K1hỏi về nguồn gốc cây mai thì Dnóilà cây mai của nhà D. K1xem cây mai và đồng ý mua với giá 700.000 đồng. Dcầm tiền rồi cùng với N4đi đến gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) ở chợ M1mua ma túy hết 300.000 đồng. Còn lại 400.000 đồng Dỹ mang về chia cho L100.000 đồng, Dvà N4mỗi người 150.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 07/KL-HĐĐGTTTHSngày 13/02/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hkết luận giá trị của 01 cây mai, loại mai tứ quý, cao 1,7m, hoành gốc cây 0,4m, tán rộng khoảng 2,5m tại thời điểm bị chiếm đoạt là 5.000.000 đồng.

Vụ!thứ!hai: Khoảng 18h00 ngày 31/01/2023, N4điều khiển xe mô tô biển số: 93C1 – 256.31 đến nhà của Lđể rủ Lđi đến nhà người quen tại thị trấn T, huyện Hđể lấy tiền do N4đi làm thuê mà có.Trên đường đi,N4rủ Lết trộm cắp cây mai để bán lấy tiền tiêu xài thì Lđồng ý. N4điều khiển xe mô tô chở Lphía sau đi đến khu vựctổ A, khu phố B, thị trấn T, huyện Hthấy phía trước cổng nhà nghỉ “G”của anhLê Thái L2 làm chủ có trồng 02 cây mai trong chậu, trong nhà không có người trông coi nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. N4đi vào trong sân dùng hai tay nắm vào gốc 01 cây mai (loại mai vàng, chiều cao 2,3m, hoành gốc cây rộng 0,38m, tán rộng 1,5m)nhấc ra khỏi chậu rồi mang ra vị trí của Lđang đứng chờ. Sau đó, Lđiều khiển xe mô tô chở N4phía sau ôm gốc mai đi đến phường M, thị xã Cđể bán cho Hoàng Duy K1với giá 300.000 đồng. N4cầm tiền rồi cùng với Lđi đến chợ M1để mua ma túy rồi cùng nhau sử dụng hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTTTHSngày 03/3/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hkết luận giá trị của 01 cây mai, loại mai vàng, chiều cao 2,3m, hoành gốc cây rộng 0,38m, tán rộng 1,5m, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 4.500.000 đồng.

Vụ!thứ!ba: Khoảng 05h00 ngày 01/02/2023, N4tiếp tục điều khiển xe mô tô đến nhà Lđể chơi. Tại đây, N4gặp Dnên đã rủ Dđi trộm cây mai bán lấy tiền tiêu xài thì Dđồng ý. Dđiều khiển xe mô tô chở N4phía sau đi đến địa bàn thị trấn Tđể tìm nhà dân có cây mai sơ hở nhằm chiếm đoạt. Khi đi qua trung tâm hành chính huyện H, Drẽ trái theo đường đất khoảng 200m, cả hai thấy nhà anh Lê Đình T1có cây mai được trồng trong chậu, không có ai trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. N4đi bộ vào dùng hai tay nắm lấy gốc cây mai (loại mai vàng, cao 1,5m, hoành gốc cây 0,26m, tán rộng 1,6m) lắc mạnh để nhấc ra khỏi chậu rồi mang ra xe mô tô. Dđiều khiển xe mô tô chở N4phía sau ôm cây mai đi đường đất hướng ra xã Tđược khoảng 1,5km thì dừng lại để gỡ đất khỏi gốc cây mai. Sau đó, N4lên phía trước điều khiển xe mô tô chở Dphía sau ôm cây mai xuống gặp anh Hoàng Duy K1để bán. Dỹ tiếp tục nói là mai của nhà Dmang bán nên anh K1đồng ý mua với giá 1.000.000 đồng. Dỹ cầm tiền đổ xăng hết 50.000đ, mua 300.000đ ma túy để cùng N4sử dụng, còn lại Dchia cho N4300.000đ, Dỹ 350.000đ tiêu xài hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTTTHSngày 04/3/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hkết luận giá trị của 01 cây mai, loại mai vàng, cao 1,5m, hoành gốc cây 0,26m, tán rộng 1,6m, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.500.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 29/5/2023của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo Điểu Trung D1, Điểu Lvà Điểu Hoàng N4về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng củaViện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản giữ nguyên quan điểm của bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Điểu Trung D1, Điểu Lvà Điểu Hoàng N4phạm tộiTrộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017xử phạt bị cáo Điểu Trung D1mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù;áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017xử phạt bị cáo Điểu Lmức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 58, chương XII của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017xử phạt bị cáo Điểu Hoàng N4 mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên về trách nhiệm dân sự.

Người bào chữa cho bị cáo N4– bà L1đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật thấp để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N4.

Các bị cáo nói lời sau cùng:

Bị cáo D1:Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, xin lỗi các bị hại, bị cáo rất ăn năn hối hận, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về lại cuộc đời.

Bị cáo L:Bị cáo đã biết sai xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo N4: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất ăn năn hối hận, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về lại cuộc đời.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1].Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của cơ quan điều tra Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người bị hạivà người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét thấy, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,biên bản kiểm tra, biên bản xác định hiện trường, kết luận định giá tài sản, vật chứng của vụ án cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trong các ngày 30/01, 31/01 và 01/02/2023, Điểu T, Điểu Lvà Điểu Hoàng N4đã có hành vi nhột gốc 01 cây mai tại Khu Vcó giá trị 5.000.000đ, 01 gốc mai của nhà anhLê Thái L2 giá trị 4.500.000 đồng và 01 gốc mai nhà anh Lê Đình T1có trị giá 1.500.000 đồng rồi bán cho anh Hoàng Duy K1để lấy tiền tiêu xài.

Hành vi của các bị cáo lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của người bị hại, lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị trên 2.000.000đ đã đủ yếu cấu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là trái quy định của pháp luật, nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân mà các bị cáo vẫn cố tình thực hiện.

Hành vi của các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây hoang mang lo lắng cho người dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phươngnên cần xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi và hậu quả đã gây ra mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành, có vai trò ngang nhau trong khi thực hiện hành vi nên phải chịu hậu quả như nhau về hành vi và hậu quả mà mình đã thực hiện.

Bị cáo N4tham gia thực hiện hành vi vào cả 03 ngày liên tiếp, tổng giá trị tài sản bị cáo tham gia chiếm đoạt là 11.000.000đ, trong đó có 02 lần tài sản chiếm đoạt trị giá trên 2.000.000đ nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Bị cáo Ltham gia thực hiện hành vi vào ngày 30 và 31/01/2023, tổng giá trị tài sản bị cáo tham gia chiếm đoạt là 9.500.000đ, cả 02 lần tài sản chiếm đoạt trị giá trên 2.000.000đ nên bị cáo cũng phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Bị cáo D1tham gia thực hiện hành vi vào các ngày 30/01 và ngày 01/02/2023 với các tài sản có giá trị là 5.000.000đ và 1.500.000đ, tổng giá trị tài sản bị cáo tham gia chiếm đoạt là 6.500.000đ. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo N4có 01 tiền sự bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo D1cũng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản tuy không bị xem là có tiền sự nhưng chứng tỏ bị cáo có nhân thân xấu, các bị cáo không lấy đó làm gương lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp. chứng tỏ các bị cáo là người coithường pháp luật, cần xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra.

Tuy nhiên, sau khi phạm tộicác bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, vàgây thiệt hại không lớn, các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật thấp. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2Điều 51 BLHS được áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.

Khi phạm tội, bị cáo N4chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng các quy định tại chương XII Bộ luật hình sự khi xem xét hình phạtđối với bị cáo.

Đối với hành vi mua các tài sản do phạm tội mà có của anh Hoàng Duy K1, khi mua anh K1không biết đây là các tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét.

[4]. Trách nhiệm dân sự:

Người bị hại Lê Thái L2đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nênkhông xem xét.

Người bị hại anh Lê Đình T1và chị Nguyễn Đình Mỹ N3yêu cầu bị cáo D1và bị cáo N4bồi thường số tiền 2.000.000đ. Bị cáo D1và bị cáo N4đồng ý mỗi bị cáo bồi thường cho anh T1, chị N3số tiền 1.000.000đ, bà Thị Mlà người đại diện theo pháp luật của bị cáo N4, đồng ý theo ý kiến của bị cáo N4. Đây là sự tự nguyện của các bên, cần ghi nhận.

Đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH MTV C1 - anh Lê Đức Tyêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000đ. bị cáo D1và bị cáo Lđồng ý mỗi bị cáo bồi thường 7.000.000đ, bị cáo N4đồng ý bồi thường số tiền 6.000.000đ, bà Thị Mđồng ý theo ý kiến của bị cáo N4. Đây là sự tự nguyện của các bên, cần ghi nhận.

Do bị cáo N4trên 15 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, theo quy định tại Điều 586 Bộ luật dân sự 2015 thì bị cáo phải bồi thường bằng tài sản của mình nếu không đủ tài sản để bồi thường thì ông Điểu Phương Kvà bà Thị Mlà cha mẹ của bị cáo phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Duy K1không yêu cầu nên không xem xét.

[5]. Vật chứng của vụ:

+ Đối với xe mô tô kiểu dáng Wave Alpha, màu đỏ - đen – bạc, biển số: 93C1 – 256.31 là tài sản của ông Điểu Phương KchoN4mượn để sử dụngnhưngkhông biết việc N4dùng làm phương tiện phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại choông Knên không xem xét.

+ Đối với 01 cây mai, loại mai tứ quý, cao 1,7m, hoành gốc cây 0,4m (đã được cắt tỉa): đây là tài sản tại Khu văn hóa Thác số 4 của Công ty TNHH MTV C1, cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại cho Công ty TNHH MTV C1nên không xem xét.

+!Đối với 01 cây mai, loại mai vàng, chiều cao 2,3m, hoành gốc cây rộng 0,38m, tán rộng 1,5m, các cành cây đã được cắt tỉa sẵn: là tài sản của ông Lê Thái L2, Cơ quan CSĐT đã thu hồi và trả lại cho ông Lê Thái L2theo quy định nên không xem xét.!

+Đối với 01 con dao bằng kim loại, dài 39cm, cán dao có quấn vải (đã qua sử dụng). Đây là công cụ các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu tiêu huỷ theo Điều 106 – Bộ luật Tố tụng hình sự.!

[6]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát làcó căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được chấp nhận.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo N4là có căn cứ, được chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Án phí dân sự sơ thẩm các bị cáo và người đại diện theo pháp luật của bị cáo N4phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo các bị cáo Điểu Trung D1, Điểu Lvà Điểu Hoàng N4phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáoĐiểu Trung D1 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Điểu L 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58; chương XII của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáoĐiểu Hoàng N409 (chín) thángtù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/4/2023.

3. Trách nhiệm dân sự:

Người bị hại Lê Thái L2và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Duy K1không yêu cầu nên không xem xét.

Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên:

Bị cáo Điểu Trung D1phải bồi thường cho anh Lê Đình T1số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng), bồi thường cho Công ty TNHH MTV C1số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng).

Bị cáo Điểu Lphải bồi thường cho Công ty TNHH MTV C1số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng).

Bị cáo Điểu Hoàng N4phải bồi thường cho anh Lê Đình T1số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng), bồi thường cho Công ty TNHH MTV C1 số tiền 6.000.000đ (sáu triệu đồng).Trường hợp, bị cáo Điểu Hoàng N4không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường đủ số tiền trên thì ông Điểu Phương Kvà bà Thị Mphải tiếp tục bồi thường cho anh Lê Đình T1và Công ty TNHH MTV C1cho đến khi đủ số tiền phải bồi thường."

4. Xử lý vật chứng:Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,sửa đổi bổ sung năm 2017.Tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 01con dao bằng kim loại, dài 39cm, cán dao có quấn vải

(Vật chứng được giao theo biên bản giao nhận vật chứng số 0005919 ngày 18/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản).

5 Án phí và quyền kháng cáo:

Án phí hình sự sơ thẩm: Mỗicáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Điểu Trung D1phải chịu 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng), bị cáo Điểu Lvà bị cáo Điểu Hoàng N4mỗi bị cáo phải chịu350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Các bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản ántrong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quanvắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ