- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN NĂNG Đ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Năng Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2023/HS-ST Ngày: 19/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đoàn Thành Nam
Các hội thẩm nhân dân: 1- Bà Nguyền Thị Chấn;
2- Bà Nguyễn Thị Kim Hoa
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G - Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Cao Đức Lộc - Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2023/TLST- HS ngày 05 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/HSST - QĐ, ngày 05/4/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Năng Đ; (tên gọi khác: Không) sinh năm 2000; tại: Hà Nội; giới tính: Nam; nơi thường trú: Thôn Tr, xã K, huyện G, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Năng H, sinh năm 1961 và con bà: Đinh Thị H1, sinh năm 1964; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02; vợ, con: Chưa có; danh chỉ bản số 0035 lập ngày 30/12/2022 tại Công an huyện G, thành phố Hà Nội; nhân thân: tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 21/12/2022 đến ngày 30/12/2022 bị cáo được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/12/2022, Đ đi đến ngã 4 chợ K, G, Hà Nội mua của người đàn ông tên H2 không rõ nhân thân mua 3 chỉ ma túy loại Ketamine “Ke” với giá 7.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đ mang về nhà cất giấu. Đến ngày 18/12/2022, Đ sử dụng hết 01 chỉ ma túy Ketamine, còn lại 02 chỉ ma túy Ketamine Đ cất trong túi áo khoác. Khoảng 00 giờ ngày 21/12/2022, Đ đang ngủ ở nhà tại thôn Tr, K, G, Hà Nội thì có Lê Thị Ngọc D, sinh năm 2003, hiện ở tại căn hộ M V, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội dungùng số điện thoại 0986.022.654 gọi vào số máy 0966.516.663 của Đ hỏi mua 02 chỉ ma túy Ketamine với giá 8.000.000 đồng (4.000.000 đồng/01 chỉ ma túy Ketamine) và bảo Đ mang đến sảnh SH V. Đ đồng ý. Đến khoảng 00 giờ 40 phút cùng ngày, Đ để 02 chỉ ma túy Ketamine trong túi áo khoác màu đen đang mặc và điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh BKS: 29N1-871.38 đi đến trước sảnh tòa SH KĐT V để bán ma túy Ketamine cho D thì bị tổ công tác Công an xã Đ - Công an huyện G kiểm tra, phát hiện và bắt giữ cùng vật chứng. Tại chỗ, bị cáo Đ khai là ma túy loại Ketamine đang mang đi bán kiếm lời, lấy tiền tiêu sài cho bản thân. Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Năng Đ. (BL 30-31).
Vật chứng Cơ quan Công an huyện G lập biên bản thu giữ của Nguyễn Năng Đ: - 01 túi nilong màu trắng kích thước (5x8,5)cm bên trong chứa 02 túi nilong màu trắng đều có kích thước (3x3)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, tất cả được bọc bên ngoài bằng giấy màu trắng và quấn dây cao su màu đen xung quanh; - 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6S màu vàng, trắng bên trong lắp sim số 0966516663; - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh; BKS: 29N1-871.38; số khung: RLHJA3923MY108773; số máy: JA39E2226102. (BL 42, 51, 57).
Tại Kết luận giám định số 8840/KL-KTHS ngày 30/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilong đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng: 2,504 gam. (BL 48).
Ngày 22/12/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện G đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Nguyễn Năng Đ tại Thôn Tr, xã K, huyện G, thành phố Hà Nội, qua khám xét không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến hành vi phạm tội. (BL 25)
Tại Cơ quan điều tra - Công an huyện G, Nguyễn Năng Đ đã khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.
Với nội dung trên tại bản cáo trạng số 59/CT-VKSGL, ngày 29/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Năng Đ ra trước Tòa về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo Nguyễn Năng Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại Cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận hồi 01 giờ ngày 21/12/2022, tại khu vực sảnh tòa nhà SH của khu đô thị V thuộc xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Năng Đ đã có hành vi cất giữ trái phép 2,504 gam ma túy loại Ketamine với mục đích để bán kiếm lời, lấy tiền tiêu sài cho bản thân là sai, vi phạm pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 59/CT-VKSGL, ngày 29/3/2023. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Năng Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Năng Đ mức án phạt tù từ 28 tháng tù đến 32 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. (Bị cáo được trừ tạm giữ từ ngày 21/12/2022 đến ngày 30/12/2022);
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có việc làm, thu nhập không ổn định;
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị tuyên:
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong nguyên vẹn, dán kín các mép, bên ngoài có chữ ký của giám định viên, các bộ niêm phong và Nguyễn Năng Đ. Bên trong phong bì niêm phong là ma túy loại Ketamine, khối lượng 2,349 gam. (Đã trừ trích mẫu 0,155gam);
- Tịch thu và sung vào Ngân sách Nhà Nước: 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng kiểu dáng Iphone 6S màu vàng, trắng. Bên trong lắp sim số 0966516663, máy cũ đã qua sử dụng. (Có niêm phong).
Bị cáo Nguyễn Năng Đ sau khi nghe quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G bị cáo nhất trí và bị cáo thừa nhận có tội và thừa nhận đã có hành vi cất giữ trái phép 2,504 gam ma túy loại Ketamine với mục đích bán để kiếm lời, lấy tiền tiêu sài cho bản thân là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Năng Đ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Năng Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các biên bản tài liệu, chứng cứ khác đã được Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 17/12/2022, Đ đi đến ngã 4 chợ K, G, Hà Nội mua của người đàn ông tên H2 không rõ nhân thân 3 chỉ ma túy loại Ketamine “Ke” với giá 7.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đ mang về nhà cất giấu. Đến ngày 18/12/2022, Đ sử dụng hết 01 chỉ ma túy Ketamine, còn lại 02 chỉ ma túy Ketamine Đ cất trong túi áo khoác. Khoảng 00 giờ ngày 21/12/2022, Đ đang ngủ ở nhà tại thôn Tr, K, G, Hà Nội thì có Lê Thị Ngọc D, sinh năm 2003, hiện ở tại căn MV, Đ, G, Hà Nội dungùng số điện thoại 0986.022.654 gọi vào số máy 0966.516.663 của Đ hỏi mua 02 chỉ ma túy Ketamine với giá 8.000.000 đồng (4.000.000 đồng/01 chỉ ma túy Ketamine) và bảo Đ mang đến sảnh SH V. Đ đồng ý. Đến khoảng 00 giờ 40 phút cùng ngày, Đ để 02 chỉ ma túy Ketamine trong túi áo khoác màu đen đang mặc và điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh BKS: 29N1-871.38 đi đến trước sảnh tòa SH KĐT V để bán ma túy Ketamine cho D thì bị tổ công tác Công an xã Đ, Công an huyện G kiểm tra, phát hiện và bắt giữ cùng vật chứng.
. Vật chứng Cơ quan Công an huyện G lập biên bản thu giữ của Nguyễn Năng Đ: - 01 túi nilong màu trắng kích thước (5x8,5)cm bên trong chứa 02 túi nilong màu trắng đều có kích thước (3x3)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, tất cả được bọc bên ngoài bằng giấy màu trắng và quấn dây cao su màu đen xung quanh; - 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6S màu vàng, trắng bên trong lắp sim số 0966516663; - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh BKS: 29N1-871.38; số khung: RLHJA3923MY108773; số máy: JA39E2226102. (BL 42, 51, 57)
. Tại Kết luận giám định số 8840/KL-KTHS ngày 30/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: - Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilong đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng: 2,504 gam. (BL 48).
Ketamine thuộc danh mục các chất ma túy mà Nhà nước cấm sử dụng.
. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 01 giờ ngày 21/12/2022, tại khu vực khu vực sảnh tòa nhà SH của khu đô thị V thuộc xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Năng Đ đã có hành vi cất giữ trái phép 2,504 gam ma túy loại Ketamine với mục đích bán để kiếm lời, lấy tiền tiêu sài cho bản thân thì bị tổ công tác Công an xã Đ - Công an huyện G kiểm tra, phát hiện, bắt giữ cùng vật chứng. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Năng Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Khẳng định nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện G, truy tố bị cáoNguyễn Năng Đ ra trước Tòa án theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Quan điểm của Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật, mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị áp dụng với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến bào chữa, tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
. Xét tính chất vụ án: Đánh giá tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự, trị an xã hội là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm khác. Bị cáo Nguyễn Năng Đ là người trưởng thành có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng ngày 21/12/2022, tại khu vực khu vực sảnh tòa nhà SH của khu đô thị V thuộc xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Năng Đ đã có hành vi cất giữ trái phép 2,504 gam ma túy loại Ketamine với mục đích để bán kiếm lời, lấy tiền tiêu sài cho bản thân. Vì vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh và giành cho bị cáo một mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
. Về nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình để Cơ quan cảnh sát điều tra, điều tra kết thúc vụ án sớm. Vì vậy, bị cáo Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015;
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa, chống tội phạm chung.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 phong bì được niêm phong nguyên vẹn, dán kín các mép, bên ngoài có chữ ký của giám định viên, các bộ niêm phong và Nguyễn Năng Đ. Bên trong phong bì niêm phong là ma túy loại Ketamine, khối lượng 2,349 gam. (Đã trừ trích mẫu 0,155gam). Đây là vật chứng nhà nước cấm lưu hành và liên quan đến tội phạm nên cần thiết tịch thu và tiêu hủy;
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6S màu vàng, trắng bên trong lắp sim số 0966516663 thu giữ của bị cáo Nguễn Năng Đ. Đây là vật chứng liên quan đến tột pham nên cần thiết tịch thu và sung vào Ngân sách Nhà Nước;
- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đeo BKS: 29N1-871.38; số khung: RLHJA3923MY108773; số máy: JA39E2226102 tạm giữ của bị cáo Nguyễn Năng Đ. Đ khai đây là chiếc xe máy do bố của Đ là ông Nguyễn Năng H, sinh năm 1961; HKTT: Tr, K, G, Hà Nội mua của một người ở thôn Tr, K, G, Hà Nội. Qua tra cứu trên dữ liệu phương tiện giao thông cơ giới đường bộ xác định: Anh Trần Hoàng Việt A, sinh năm 2006; HKTT: Tr, K, G, Hà Nội là người đứng tên trên đăng ký xe. Anh Việt A khai: Khoảng tháng 05/2021, anh Việt A có mua và đăng ký mới chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh; BKS: 29N1-871.38; số khung: RLHJA3923MY108773; số máy: JA39E2226102 bằng tiền do lao động chính đáng mà có. Đến tháng 07/2021, do không có nhu cầu sử dụng nên anh Việt A đã bán chiếc xe trên cho ông Nguyễn Năng H. Ông H khai: Khoảng tháng 7/2021, ông H có mua 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh; BKS: 29N1-871.38; số khung RLHJA3923MY108773; số máy: JA39E2226102 của anh Trần Hoàng Việt A bằng tiền do lao động chính đáng mà có. Khi mua đã viết giấy tờ mua bán xe và anh Việt A đã bàn giao đầy đủ giấy tờ xe cho ông nhưng do bận công việc nên ông H vẫn chưa đi sang tên đăng ký xe được. Hàng ngày, chiếc xe trên gia đình ông H sử dụng làm phương tiện đi lại. Đến ngày 22/12/2022, ông H biết việc Đ bị Công an huyện G bắt và tạm giữ xe. Ông H không biết và không liên quan đến việc Đ sử dụng chiếc xe máy trên đi mua bán ma túy. Ngày 03/3/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đã ra Quyết định xử lý vật chứng và lập biên bản trả lại chiếc xe máy trên cho ông Nguyễn Năng H là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
. Các vấn đề khác trong vụ án:
- Đối với Lê Thị Ngọc D có hành vi trao đổi mua ma túy của Đ. Qua xác minh tại Công an xã Đ thì không có ai tên Lê Thị Ngọc D, sinh năm 2003 đang ở tại căn hộ M toà SH KĐT V thuộc xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. Đối với số điện thoại 0986.022.654 qua xác minh thì đến nay chưa có kết quả xác minh đối với số điện thoại 0986.022.654 mà Lê Thị Ngọc D dùng để liên lạc mua ma tuý với Đ. Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đang tiếp tục xác minh làm rõ đối tượng Lê Thị Ngọc D để xử lý theo quy định của pháp luật;
- Đối với đối tượng tên H2 theo Đ khai là người đã bán ma túy cho Nguyễn Năng Đ. Qúa trình điều tra thì Đ khai không biết tên tuổi đầy đủ, địa chỉ, thông tin về người này. Qua các mối quan hệ xã hội thì Đ biết H2 thường xuyên bán ma tuý tại khu vực chợ K, G, Hà Nội nên khi có nhu cầu Đ sẽ đến gặp trực tiếp H2 để mua ma tuý. Công an xã Đ đã phối hợp với Công an xã K - Công an huyện G tiến hành thân dẫn Đ đến vị trí mua ma tuý của H2 tại cột điện trước cửa nhà hàng H3; địa chỉ nhà máy Z176, xã K, huyện G, thành phố Hà Nội nhưng không xác minh làm rõ được đối tượng H2. Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đang tiếp tục xác minh làm rõ đối tượng trên để xử lý theo quy định của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản ”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Năng Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Xử phạt: Nguyễn Năng Đ 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. (Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/12/2022 đến ngày 30/12/2022)
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Năng Đ.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong nguyên vẹn, dán kín các mép, bên ngoài có chữ ký của giám định viên, các bộ niêm phong và Nguyễn Năng Đ. Bên trong phong bì niêm phong là ma túy loại Ketamine, khối lượng 2,349 gam. (Đã trừ trích mẫu 0,155gam);
- Tịch thu và sung vào Ngân sách Nhà Nước: 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng kiểu dáng Iphone 6S màu vàng, trắng. Bên trong lắp sim số 0966516663, máy cũ đã qua sử dụng. (Có niêm phong).
(Số vật chứng, tài sản trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện G đang quản lý theo Biên bản bàn giao vật chứng, tài sản lập ngày 05/4/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, bị cáo Nguyễn Năng Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Tòa án nhân dân TP. Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hà Nội; -UBND xã K, huyện G, Hà Nội. (Thay cho thông báo kết quả xét xử); - Sở Tư pháp TP.Hà Nội; - Công an, VKSND huyện G; - THADS huyện G; - Lưu: Vp; Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thành Nam |