- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B V - TP. HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57 /2023/HS-ST Ngày: 30 tháng 06 năm 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B V
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Đức Thưởng
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Lê Văn Hoan
Ông Nguyễn Xuân Thuật
Thư ký Tòa án nhân dân Huyện BV: Bà Nguyễn Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện B V – Tp. Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện BV: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 06 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện BV. Toà án nhân dân Huyện BV đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 50/2023/HSST ngày 11/05/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXX- HSST ngày 14/06/2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Bá Th, sinh năm 1986; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở khi bị bắt: Thôn C B, thị trấn T Đ, Huyện BV, Thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hoá: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Bá C ( đã chết); Con bà: Nguyễn Thị X, sinh năm 1958; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
2. Người bị hại: Anh Chu Trọng H, sinh năm 1991
Địa chỉ: Xóm N, thôn V L 2, xã V L, huyện BV, TP.Hà Nội.
(Anh H vắng mặt tại phiên tòa)
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1979
(Chị M vắng mặt tại phiên tòa)
- Anh Nguyễn Viết D, sinh năm 1988
- Anh Nguyễn Bá Ch, sinh năm 1980
Đều có địa chỉ tại: Thôn C B, thị trấn TĐ, huyện BV, TP Hà Nội.
( Anh D và anh Ch có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu sài cá nhân, Nguyễn Bá Th, sinh năm 1986 nảy sinh ý định đột nhập vào khu trang trại chăn nuôi của anh gia đình Chu Trọng H (Sinh năm 1991; trú tại: xóm N, thôn V L 2, xã V L, huyện BV) để trộm cắp tài sản.
Thực hiện ý định trên, khoảng 00 giờ ngày 24/12/2022, Th điều khiển xe mô tô biển số: 33P4-6371 của Th đi từ nhà theo đường bờ mương đến khu trang trại chăn nuôi của anh H ở ngoài cánh đồng, thuộc xóm N, thôn V L 2, xã V L, Huyện BV. Th dừng xe ngoài bờ mương, cách trang trại của anh H khoảng 50 mét. Sau đó Th đi bộ đột nhập vào trong trang trại của gia đình anh H và quan sát thấy phía trước hiên nhà trong trang trại có xếp nhiều bao cám lợn nhãn hiệu AF Plus loại Hỗn hợp viên cho lợn thịt siêu nạc. Th lấy trộm 01 bao cám, vác ra chỗ để xe và giấu vào bụi Cỏ sữa gần bờ mương rồi đi xe về nhà. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Th điều khiển xe đến chỗ đã cất giấu bao cám chở về gần trang trại nuôi lợn của gia đình Th và đứng đợi Nguyễn Viết D (sinh năm 1988, ở cùng thôn, là bạn của Th), khi thấy D đi làm về Th gọi và nhờ D đi bán hộ 01 bao cám thì D đồng ý. Sau đó D gọi điện thoại cho chị gái là chị Nguyễn Thị M (Sinh năm 1979, ở cùng thôn) hỏi có mua cám lợn không thì chị M đồng ý nên D đã điều khiển xe chở theo bao cám lợn đến nhà chị M để bán hộ Th với giá 200.000 đồng. Khi D cầm tiền về thì Th nhờ D đi mua ma túy về sử dụng. D đồng ý và đi đến Trung tâm y tế Huyện BV để tìm mua ma túy do biết có nhiều người nghiện ma túy và thường đến đây để uống methadone. Sau đó, D mua được 01 tép ma túy (Heroine) từ 01 người đàn ông (D không quen biết) đội mũ, đeo kính râm và khẩu trang với giá 200.000 đồng, D cầm gói ma túy này mang về đưa cho Th sử dụng còn D đi về nhà.
Ngoài lần trộm cắp trên, trước đó cũng với phương thức, thủ đoạn như lần trộm cắp vào ngày 24/12/2022 Nguyễn Bá Th còn thực hiện 05 lần trộm cắp cám lợn tại trang trại của anh Chu Trọng H, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 20 giờ một ngày đầu tháng 12/2022 (Th không không nhớ rõ ngày), Th lấy trộm 01 bao cám lợn nhãn hiệu AF Plus ở trước hiên nhà trong khu trang trại của anh H. Đến buổi trưa ngày hôm sau Th gọi điện thoại cho D nói có 01 bao cám lợn nhà Th còn thừa muốn bán, nhờ D bán hộ thì D đồng ý. Sau đó D chở bao cám đến bán cho chị M được 200.000đ và cầm tiền về đưa cho Th còn D về nhà mình.
Lần thứ 2: Vào khoảng 20 giờ một ngày giữa tháng 12/2022, với phương thức thủ đoạn như trên Th tiếp tục lấy trộm được 01 bao cám lợn nhãn hiệu AF Plus tại trang trại của anh H, sau đó Th tiếp tục nhờ D đi bán hộ. D điều khiển xe mang theo bao cám đến bán cho chị M được số tiền 200.000 đồng rồi cầm số tiền này về cho Th, Th đưa lại cho D 200.000 đồng để nhờ D đi mua ma túy thì D đồng ý. D đi đến cổng Trung tâm y tế huyện BV, gặp một người đàn ông khoảng hơn 40 tuổi, dáng người thấp, đội mũ đeo khẩu trang, hỏi mua được 01 gói ma túy (Heroine) với giá 200,000 đồng. Sau đó D mang ma túy về đưa cho Th rồi cả hai cùng sử dụng mua túy bằng hình thức hít ở ngoài khu chuồng lợn nhà Th.
Lần thứ 3: Vào khoảng 20 giờ một ngày cũng trong tháng 12/2022, sau lần trộm cắp thứ hai Th lấy trộm được 02 (hai) bao cám lợn nhãn hiệu AF Plus sau đó nhờ D bán hộ cho chị M thu được tổng số tiền 400.000 đồng.
Lần thứ 4 và Lần thứ 5 đều vào các ngày trong tháng 12/2022, sau lần trộm cắp thứ ba Th đột nhập vào trang trại của anh H lấy trộm được 02 bao cám lợn nhãn hiệu AF Plus (mỗi lần trộm 01 bao) rồi nhờ D đem bán cho chị M với giá 200.000 đồng/ bao. Sau khi bán được cám, D cầm tiền về đưa cho Th. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán tài sản trộm cắp (là tổng số tiền 1.400.000 đồng), Th đã tiêu sài cá nhân hết, trong đó có 02 lần nhờ D đi mua ma túy.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 11/HĐ-ĐGTS ngày 15 tháng 01 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Huyện BV kết luận như sau:
"- 07 (bảy) bao cám lợn có trọng lượng 25kg, nhãn hiệu AF Plus loại hỗn hợp viên cho lợn thịt siêu nạc từ 20kg-50kg, còn mới chưa qua sử dụng x 14.394 đồng/kg: 2.518.950 đồng. Tổng cộng giá trị: 2.518.950 đồng (Hai triệu, năm trăm mười tám nghìn chín trăm năm mươi đồng chẵn)".
* Vật chứng của vụ án:
- 01 bao cám lợn có trọng lượng 25 kg nhãn hiệu AF Plus loại hỗn hợp viên cho lợn thịt siêu nạc từ 20kg-50kg chưa qua sử dụng (do chị Nguyễn Thị M giao nộp). Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của anh Chu Trọng H nên Cơ quan CSĐT đã trả lại 01 bao cám trên cho anh H.
- 01 xe mô tô Dream gắn biển kiểm soát 33P4-6371, Nguyễn Bá Th sử dụng để đi trộm cắp tài sản. Căn cứ bản Kết luận giám định số: 2677 ngày 28/4/23 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội thì tại vị trí đóng số khung và số máy của chiếc xe có nhiều dấu vết tẩy xóa; Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 53 ngày 26/4/23 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện BV kết luận chiếc xe trên có giá trị: 14.000.000đ. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã làm rõ chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của chị Hoàng Thị Th H (sinh năm 1977, trú tại xóm 6, xã Ph Ch, huyện BV, TP hà Nội). Chị Hiền đã trình báo mất chiếc xe trên vào đầu tháng 07/2014 tại Công an xã Ph Ch. Mặt khác, Nguyễn Bá Th khai mua được chiếc xe trên từ 01 cửa hàng sửa chữa, mua bán xe máy dưới nội thành TP.Hà Nội, do thời gian đã lâu nên không còn nhớ tên cửa hàng và địa chỉ cụ thể. Căn cứ Khoản 2, Điều 27 Bộ luật Hình sự thì đến nay thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với vụ việc mất xe mô tô của chị H đã hết (Do thuộc trường hợp ít nghiêm trọng). Vì vậy Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý và trả lại chiếc xe trên cho chị H là có căn cứ.
- 01 chiếc biển kiểm soát của xe mô tô số: 33P4-6371. Đối với vật chứng này, Viện kiểm sát ra quyết định chuyển đến Chi cục THADS huyện BV để chờ xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản cáo trạng số: 48/CT-VKS ngày 29/05/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện BV, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Bá Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 BLHS năm 2015;
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện BV tham gia phiên tòa phát biểu luận tội, giữ nguyên nội dung như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Bá Th. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 BLHS. Về hình phạt, đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm b, i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo: Nguyễn Bá Th từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc biển kiểm soát của xe mô tô số: 33P4-6371.
Căn cứ vào các chứng cứ và tại liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa ;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn
diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Căn cứ vào các chứng cứ và tại liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn
diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng : Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện BV, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện BV, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Bá Th thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản thu giữ tang vật CQĐT thu giữ. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 24/12/2022 đến hết tháng 12/2022 bị cáo Nguyễn Bá Th đã thực hiện 06 vụ trộm cắp, với 07 bao cám thức ăn chăn nuôi thịt siêu nạc hiệu AF Plus, trong lượng 25kg/1bao của trang trại chăn nuôi lợn của gia đình anh Chu Trọng H, tại xóm Nội, thôn V L, xã V L, Huyện BV, thành phố Hà Nội. Th bán 07 bao cám Th nhờ bán thu lời bất chính 1.400.000đ để tiêu sài. Tại kết luận số: 53/KL/ĐGTS ngày 26/04/2023, kết luận: “07 (bảy) bao cám lợn có trọng lượng mỗi bao 25kg, nhãn hiệu AF Plus loại hỗn hợp viên cho lợn thịt siêu nạc từ 20kg-50kg, còn mới chưa qua sử dụng x 14.394 đồng/kg có giá 2.518.950 đồng”. Do vậy Hội đồng xét xử đã có đầy đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Bá Th đã phạm tội “ Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1, điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Xét thấy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự của địa phương. Do đó cần pH xử lý nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả tội phạm đã thực hiện để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối cải, bị cáo đã thuyết phục gia đình đã tự nguyện bồi thường dân sự cho người bị hại là gia đình anh Chu Trọng H số tiền: 30.000.000đ, bị cáo Th phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s Khoản 1, Điều 51 BLHS.
Xét thấy bị cáo Nguyễn Bá Th có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên áp dụng điều 65 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.
Tại khoản 5, Điều 173 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 còn quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Xét thấy bị cáo Th là đối tượng nghiên ma ma túy gia đình xin cho đi cai nghiện tự nguyện, bị cáo không có tài sản, không có công ăn việc làm, thu nhập không ổn định . Do vậy miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo là thỏa đáng.
Đối với Nguyễn Viết D: Trong lần trộm cắp đầu tiên Th nhờ D bán hộ cám, Th đã nói với D là cám của gia đình mình thừa không dùng đến. Do là bạn của Th và biết nhà Th cũng chăn nuôi nhiều lợn nên D nghĩ số cám Th nhờ bán hộ là của Th. Mặt khác các lần nhờ bán cám, Th đều hẹn D đợi ở gần khu chăn nuôi nhà Th và vác cám từ đó ra xe cho D nên D không biết đó là tài sản Th trộm cắp mà có. Vì vậy, hành vi của Nguyễn Viết D không đồng phạm với Th và không cấu thành tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
Đối với chị Nguyễn Thị M: đã 06 lần mua 07 cám lợn do D chở đến, D nói với chị M là cám của bạn nhờ bán hộ. Chị M không biết số cám này là tài sản do Th trộm cắp mà có nên đã mua về để phục vụ chăn nuôi trong gia đình. Do vật cơ quan điều tra không xử lý hành vi của M là có căn cứ.
Đối với hành vi Nguyễn Bá Th nhờ Nguyễn Viết D đi mua ma túy về rồi cùng nhau sử dụng tại khu chuồng lợn nhà Th. Do Th và D đều là đối tượng nghiện ma túy (có kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy), và có tên trong danh sách người nghiện điều trị uống thuốc Methadol tại Trung tâm y tế huyện BV. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Th và D đã vi phạm Khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ nên Công an huyện BV ra các quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Th và D về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức cảnh cáo là có căn cứ.
Đối với các đối tượng đã bán ma túy cho D, do D không quen biết những người này, không biết địa chỉ, tên tuổi, khi mua ma túy những người này đều đeo khẩu trang nên không có căn cứ xác định con người cụ thể. Vì vậy không có căn cứ để điều tra, xử lý trong vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Bá Ch, sinh năm 1980, trú tại thôn C B, thị trấn T Đ, Huyện BV, TP Hà Nội là anh trai của bị cáo Nguyễn Bá Th đã bồi thường cho gia đình anh Chu Trọng H số tiền 30.000.000 đồng, anh H đã nhận đủ số tiền trên và không còn yêu cầu, đề nghị gì về dân sự nên HĐXX không xem xét. Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Bá Ch cho rằng bị cáo Th là em trai ruột anh Ch, anh Ch không yêu cầu bị cáo Nguyễn Bá Th pH trả lại số tiền 30.000.000đ cho anh. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: 01 bao cám lợn có trọng lượng 25 kg nhãn hiệu AF Plus loại hỗn hợp viên cho lợn thịt siêu nạc từ 20kg-50kg chưa qua sử dụng (do chị Nguyễn Thị M giao nộp). Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của anh Chu Trọng H nên Cơ quan CSĐT đã trả lại 01 bao cám trên cho anh H.
- 01 xe mô tô Dream gắn biển kiểm soát 33P4-6371, Nguyễn Bá Th sử dụng để đi trộm cắp tài sản. Căn cứ bản Kết luận giám định số: 2677 ngày 28/4/23 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội thì tại vị trí đóng số khung và số máy của chiếc xe có nhiều dấu vết tẩy xóa; Tại bản Kết luận định giá tài sản số 53 ngày 26/4/23 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện BV kết luận chiếc xe trên có giá trị: 14.000.000đ. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã làm rõ chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của chị Hoàng Thị Thu H (sinh năm 1977, trú tại xóm 6, xã Ph Ch, huyện BV, TP hà Nội). Chị H đã trình báo mất chiếc xe trên vào đầu tháng 7/2014 tại Công an xã Ph Ch. Mặt khác, Nguyễn Bá Th khai mua được chiếc xe trên từ 01 cửa hàng sửa chữa, mua bán xe máy dưới nội thành TP Hà Nội, do thời gian đã lâu nên không còn nhớ tên cửa hàng và địa chỉ cụ thể. Căn cứ Khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự thì đến nay thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với vụ việc mất xe mô tô của chị Hiền đã hết (Do thuộc trường hợp ít nghiêm trọng). Vì vậy Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý và cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị H, do vậy hội đồng xét xử không xét.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc biển kiểm soát của xe mô tô số: 33P4-6371.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn.
QUYẾT ĐỊNH
1/ Xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2/ Áp dụng: Khoản 1, Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, Điều 51; Điều 65 BLHS năm 2015.
3/ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá Th 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Bá Th về UBND Thị trấn T Đ, huyện BV, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thề quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3./ Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc biển kiểm soát xe mô tô số: 33P4-6371 đã rỉ cũ ( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân dự huyện BV)
5./ Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Bá Th phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6./ Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231 BLTTHS.
Bị cáo Nguyễn Bá Th được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Chu Trọng H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
Anh Nguyễn Viết D, anh Nguyễn Bá Ch có quyền kháng cáo phần nghĩa vụ liên quan của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Chị Nguyễn Thị M có quyền kháng cáo phần nghĩa vụ liên quan của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: -TAND.TP.Hà nội. -VKSND. H.BV - Bị cáo, bị hại. - Lưu HSVA, Vp. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | T.M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Thưởng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |