- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lượng T phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lượng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2023/HS-PT Ngày: 30-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản.
Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Tuấn, bà Vũ Thị Thanh Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 37/2023/TLPT-HS ngày 22 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo Lượng T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2023/HS-ST ngày 10 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện P1.
- Bị cáo có kháng cáo: Lượng T. Giới tính: Nam; Sinh năm 1999, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn L1, xã P, huyện P1, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Chăm; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Bà La Môn; Trình độ học vấn: 9/12, Nghề nghiệp: không; Cha: Lượng L2, Mẹ: Trương Thị Q; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 04/01/2018, bị Tòa án nhân dân huyện P1, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội: Cố ý gây thương tích, tại Bản án số 06/2018/HS-ST. Đến ngày 27/4/2019 thì chấp hành xong hình phạt tù về cư trú tại địa phương (đã được xóa án tích)
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/9/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P1.
- Bị hại: Ngô B (tên thường gọi: Tý) - sinh năm 1990
Nơi cư trú: Thôn L1, xã P, huyện P1, tỉnh Bình Thuận.
- Người làm chứng:
+ Đàng V- sinh năm 1998. Nơi cư trú: Thôn L1, xã P, huyện P1, tỉnh Bình Thuận.
+ Ngô C - sinh năm 1966. Nơi cư trú: Thôn L1, xã P, huyện P1, tỉnh Bình Thuận.
+ Lê Văn T1- sinh năm 1995. Nơi cư trú: thôn Đ, xã P, huyện P1, tỉnh Bình Thuận.
+ Võ H - sinh năm 1997. Nơi cư trú: thôn V1, xã H1, huyện P1, tỉnh Bình Thuận.
+ Mai Thanh C1- sinh năm 1990. Nơi cư trú: thôn T2, xã P2, huyện P1, tỉnh Bình Thuận.
+ Lư Thái S- sinh năm 1999. Nơi cư trú: Thôn L1, xã P, huyện P1, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo lời khai của Lượng T, khoảng 14 giờ ngày 22/8/2021, Lượng T thả lưới bắt cá cùng Đàng V. Trong lúc thả cá thì anh ruột của T gọi điện thoại cho T nói có Ngô B cầm hung khí đến nhà tìm T. T nghe vậy thì T mượn xe mô tô của Đàng V để chạy đến nhà Ngô B hỏi việc lý do B cầm hung khí đến nhà tìm T. Trong lúc nói chuyện xảy ra mâu thuẫn thì B và một số người đánh T, nên T bỏ chạy và để xe của Đàng V ở lại, T mượn xe của Thanh Thị L2 (là bà con của T) chạy đến nơi Đàng V nói việc T bị đánh. V và T cùng nhau quay lại nhà B thì gặp 01 nhóm thanh niên đang đứng trước nhà B cầm hung khí kiếm, mã tấu đứng chờ. V và T bỏ chạy, T bị 01 người thanh niên cầm kiếm nhật chém trúng tay của T, thì người này làm rớt cây kiếm. T chụp lấy cây kiếm có đặc điểm tay cầm bằng vải, dài khoảng 01m, lưỡi kiếm bằng kim loại. T cầm 01 cây kiếm nhật chém nhiều nhát trúng vào người Ngô B sau đó T bỏ chạy và ném cây kiếm ở đâu không rõ.
Theo lời trình bày của Ngô B, do trước đó B có mượn tiền của Mai Thanh C1(Sang) số tiền 1.200.000 đồng. Vào tối ngày 21/8/2021, C1 (Sang) nhờ Lượng T dẫn đường đi đến nhà B để đòi nợ số tiền 1.200.000 đồng nhưng B không có tiền trả và xin khất nợ, C1 (Sang) không đồng ý. C1 (Sang) dùng tay đánh vào mặt của B rồi đi về. Đến khoảng 15 giờ ngày 22/8/2021, tại nhà Ngô C thuộc Thôn L1, xã P có tổ chức tiệc ăn nhậu trong đó có Võ H (La), Nguyễn Thanh D, Lê Văn T1(Diu), Ngô B (Tý) và một số người khác cùng ngồi dự tiệc, lúc này bên ngoài có nhóm thanh niên đi trên 03 xe mô tô gồm Lượng T, Đàng V, Nguyễn Tiểu L, Lư Thái S cầm mã tấu đến gặp Ngô B để đòi số tiền mà B thiếu trước đó thì dẫn đến cãi nhau. Lúc này T, L và Đàng V cầm mã tấu lao vào chém Ngô B. T dùng mã tấu chém 01 cái trúng vào người T, H thì H bỏ chạy. L dùng mã tấu chém vào tay của B, T dùng mã tấu giơ lên cao chém từ trên xuống 01 nhát thì Ngô B giơ tay trái lên đỡ thì lưỡi dao trúng vào tay của B gây thương tích chảy máu làm B ngất xỉu. Thấy vậy T, L, S và Đàng V không chém B nữa mà bỏ đi. B được đưa đến bệnh viện điều trị thương tích. Thu giữ 01 cây rìu dài 1,2m, 01 cây kiếm tự chế dài 60cm.
Tại biên bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 39/2022/TgT ngày 30.11.2021 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Bình Thuận kết luận:
-Vết thương phần mềm 1/3 dưới mặt ngoài cánh tay trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước: 10x0,8cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%.
-1/3 trên mặt ngoài cẳng tay trái có 02 vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước:
+Vết 1: 1,5x1cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.
+Vết 2: 2,5x 0,4cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
- Vết thương phần mềm mặt lòng bàn tay trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước: 16x0,1cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 3%.
- Vết thương-chấn thương mặt mu bàn tay trái, gãy đầu xa đốt gần ngón IV bàn tay trái đã được điều trị hiện ngón IV bàn tay trái hạn chế cử động gấp – duỗi – dạng – khép ngón, để lại sẹo kích thước: 13x0,3cm; không thấy mẻ xương IV bàn tay trái trên phim Xquang. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 3%+3%+2%.
- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho ông Ngô Bhiện tại là 16% (mười sáu phần trăm)
- Các vết thương do vật sắc gây ra.
- Các vết thương có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương tích.
Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 10 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện P1 đã quyết định:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lượng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Lượng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời gian tù tính từ ngày bị bắt (07/9/2022);
Bản án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Ngày 14/02/2023, bị cáo Lượng T có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về vệc giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định, được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Lượng T thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 15 giờ ngày 22/8/2022, tại Thôn L1, xã P, huyện P1. Lượng T đã dùng hung khí nguy hiểm (bị cáo khai dùng kiếm, bị hại khai dùng mã tấu) chém nhiều nhát trúng vào tay trái của Ngô Bgây thương tích 16%. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị cáo Lượng T xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội cố ý gây thương tích; tình tiết giảm nhẹ đã bồi thường một phần thiệt hại. Mặc dù không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có 2 tình tiết quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự (dùng hung khí nguy hiểm, phạm tội có tính chất côn đồ). Với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 02 năm 6 tháng tù là phù hợp, không nặng. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lượng T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 10 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện P1.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lượng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Xử phạt: Bị cáo Lượng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời gian tù tính từ ngày bị bắt (07/9/2022).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 30/5/2023).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKS, CA, TA, CC.THA cấp huyện; - Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận; - Những người tham gia tố tụng; - PV06 – Công an tỉnh Bình Thuận; - Tổ HCTP – TAND tỉnh Bình Thuận; - Lưu: Hồ sơ. Thành Viên Hội đồng xét xử | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Quản Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Quản |