vanban.org

Bản án 57/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
T PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:57/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09/5/2023
V/v: “Tranh chấp về ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T PHỐ NHA TRANG

T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Liên;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Có

Bà Lê Nguyễn Thái Minh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Lãm - Thư ký Tòa án nhân dân T phố Nha Trang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giỏi Mạnh Phi - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân T phố Nha Trang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 1314/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp về Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị N; sinh năm 1991

Địa chỉ thường trú: Số 38 (số mới 446) VTS, phường Vĩnh Trường, T phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; có mặt

- Bị đơn: Ông Hồ Văn T; sinh năm 1991

Địa chỉ: 64 PL, phường Vĩnh Trường, T phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Bà Trần ThịN và ông Hồ Văn T kết hôn tự nguyện vào năm 2019, đăng ký kết hôn tại UBND phường Vĩnh Trường, T phố Nha Trang. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng. Những lần mâu thuẫn cãi vã thì ông T đã đánh đập bàN. Từ tháng 12/2022 bàN đã về nhà cha mẹ để sinh sống. BàN và ông T không còn quan tâm đến nhau. BàN không còn tình cảm với ông T nên yêu cầu ly hôn.

Về con chung: BàN ông T có 01 con chung là Hồ Đức Tài, sinh ngày 22/11/2018; bàN yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tài, không yêu cầu ông T cấp dưỡng

Về tài sản chung, nợ chung: BàN không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Hồ Văn T trình bày tại các tài liệu có trong hồ sơ:

Ông T và bà Trần ThịN kết hôn tự nguyện vào năm 2019, đăng ký kết hôn tại UBND phường Vĩnh Trường, T phố Nha Trang. Ông T thừa nhận trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. BàN có lời lẽ xúc phạm ông T nên ông T nóng giận có đánh đập bàN. BàN và ông T đã sống ly thân từ tháng 12/2022 cho đến nay. Nay bàN yêu cầu ly hôn ông T không đồng ý.

Về con chung: Ông T bàN có 01 con chung là Hồ Đức Tài, sinh ngày 22/11/2018. Trong trường hợp ly hôn ông T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bàN cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông T có đề nghị xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa: Tòa án nhân dân T phố Nha Trang thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng pháp luật. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự đúng quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa. Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Bị đơn có đề nghị xét xử vắng mặt; Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: BàN và ông T kết hôn tự nguyện vào năm 2019 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Vĩnh Trường, T phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, không thể hàn gắn nên bàN yêu cầu ly hôn.

Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa các bên đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là chính đáng, có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về con chung: BàN ông T có 01 con chung là Hồ Đức Tài, sinh ngày 22/11/2018, bàN đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. BàN không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Xét thấy, yêu cầu của bàN là chính đáng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về tài sản chung, nợ chung: BàN ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1/ Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; bà Trần ThịN được ly hôn ông Hồ Văn T

Về con chung: Giao cho bà Trần ThịN trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Hồ Đức Tài, sinh ngày 22/11/2018. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Hồ Văn T do bàN không yêu cầu.

Ông T có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở;

Về tài sản chung, nợ chung: BàN ông T không yêu cầu nên không xem xét.

2/ Về án phí: Bà Trần ThịN phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0002789 ngày 02 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự T phố Nha Trang. BàN đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ