vanban.org

Bản án 57/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Mai H. Bà Lê Thị Mai H được ly hôn ông Phan Thanh V.

Giấy chứng nhận kết hôn số 175, ngày 09 tháng 9 năm 2009 của Ủy ban nhân dân xã Bình Thủy, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, cấp cho bà Lê Thị Mai H và ông Phan Thanh V không còn giá trị pháp lý. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà H yêu cầu ly hôn ông V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Mai H. Bà Lê Thị Mai H được ly hôn ông Phan Thanh V.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 57/2023/HNGĐ-ST
Ngày 25 – 4 – 2023
V/v “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
giữa bà H với ông V”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thanh Vân.

2. Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Kiều Văn Liêu – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lxét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 44/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 90/2022/QĐXXST–HN ngày 03 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mai H, sinh năm 1986 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Lô 1B3 (số mới 19), Lê Quát, khóm ĐH, phường ĐX, thành phố L, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Phan Thanh V, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ: Lô 1B3 (số mới 19), Lê Quát, khóm ĐH, phường ĐX, thành phố L, tỉnh An Giang.

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 01 năm 2023 và trong quá trình hòa giải nguyên đơn bà Lê Thị Mai H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phan Thanh V tự nguyện quen biết, tìm hiểu, rồi tiến tới hôn nhân. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thủy, được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 175, ngày 09/9/2009.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 11 năm thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, và đã ly thân từ năm 2020. Nay yêu cầu ly hôn với ông V.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Phan Lê Hạ Uyên, sinh ngày 19/11/2010 và Lê Phan V Khuê, sinh ngày 03/02/2017, hiện các cháu đang sống chung với bà, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi các cháu.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phan Thanh V vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không gửi văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ, tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác nhưng vẫn vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Đề nghị áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Phan Lê Hạ Uyên, sinh ngày 19/11/2010 và Lê Phan V Khuê, sinh ngày 03/02/2017, hiện con chung đang sống chung với bà H. Cháu Uyên có nguyện vọng được chung sống với bà H, đề nghị giao cho bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu Uyên và Khuê.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao Giấy khai sinh của cháu Uyên, Khuê; Biên bản xác minh tình trạng cư trú của ông V; ghi ý kiến của con chung chưa thành niên...

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tranh chấp của các đương sự là về ly hôn, nuôi con, bị đơn có địa chỉ thường trú tại địa bàn thành phố L, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ltại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà H, ông V chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thủy, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông V do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, vợ chồng ly thân đã lâu.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án mở các phiên hòa giải để hòa giải, động viên đoàn tụ nhưng ông V vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến, bỏ mặc cho bà H tự giải quyết, không quan tâm đến việc hàn gắn quan hệ vợ chồng. Xét, mối quan hệ vợ chồng là mối quan hệ gắn bó lâu dài và bền vững, vợ chồng phải thương yêu chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, cùng chung tay nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, sống chung với nhau, nhưng ông bà ly thân đã lâu, ông bà đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà H yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.

[2.2] Về con chung: Có 02 con chung tên Phan Lê Hạ Uyên, sinh ngày 19/11/2010 và Lê Phan V Khuê, sinh ngày 03/02/2017, hiện cháu Uyên và Khuê đang chung sống với bà H, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi các cháu.

Xét, từ khi ly thân đến nay bà H là người trực tiếp nuôi con chung, ông V không cùng bà H chăm sóc nuôi dạy con, cháu Uyên có nguyện vọng được chung sống với bà H, để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của các cháu, tạo điều kiện cho các cháu được ổn định tinh thần, sinh sống và học tập, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Uyên và cháu Khuê cho bà H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Bà Lê Thị Mai H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Phan Thanh V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Lê Thị Mai H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001272 ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Mai H. Bà Lê Thị Mai H được ly hôn ông Phan Thanh V.

Giấy chứng nhận kết hôn số 175, ngày 09 tháng 9 năm 2009 của Ủy ban nhân dân xã Bình Thủy, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, cấp cho bà Lê Thị Mai H và ông Phan Thanh V không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung:

2.1. Bà Lê Thị Mai H và ông Phan Thanh V có 02 con chung tên Phan Lê Hạ Uyên, sinh ngày 19/11/2010 và Lê Phan V Khuê, sinh ngày 03/02/2017.

2.2. Giao cháu Phan Lê Hạ Uyên, sinh ngày 19/11/2010 và Lê Phan V Khuê, sinh ngày 03/02/2017 cho bà Lê Thị Mai H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Bà Lê Thị Mai H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Phan Thanh V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị Mai H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Bà Lê Thị Mai H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001272 ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ