vanban.org

Bản án 57/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của ông Nguyễn Duy T đối với bà Trần Thị Thanh T.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1985 được ly hôn với bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1988. (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 112 ngày 21/8/2008 của Ủy ban nhân dân phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng không còn giá trị kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Duy T và Trần Thị Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của ông Nguyễn Duy T đối với bà Trần Thị Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN ND QUẬN LIÊN CHIỂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2023/HNGĐ-ST
Ngày 22 tháng 9 năm 2023
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

***

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU TP ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Nguyễn Thi Thi

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Cơ

2. Ông Nguyễn Công Chi

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Chu Thị Phương Thùy - Cán bộ Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu – thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Thắm – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 286/2023/TB-TLVA ngày 01 tháng 8 năm 2023, về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 286/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2023/QĐST ngày 15/9/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ 45 N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ 27 phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện gởi đến Tòa án, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Duy T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Duy T và bà Trần Thị Thanh T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do tính tình và quan điểm sống không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Mặc dù đã được hai bên gia đình nhiều lần khuyên ngăn nhưng giữa vẫn không thể tiếp tục duy trì tình cảm như trước kia, nay ông T nhận thấy không còn tình cảm với bà T, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông Nguyễn Duy T được ly hôn với bà Trần Thị Thanh T.

- Về con chung: Ông Nguyễn Duy T xác định ông và bà T có 01 con chung là cháu Nguyễn Duy A, sinh ngày 31/10/2008. Ly hôn ông có nguyện vọng giao con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 2.500.000đ/tháng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Duy T xác nhận ông và bà Trần Thị Thanh T không có tài sản chung và nợ chung.

* Bị đơn – bà Trần Thị Thanh T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập lên lấy lời khai, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Trần Thị Thanh T vẫn vắng mặt không có lý do cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy T nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

* Qua xác minh tại địa phương thể hiện: Bà Trần Thị Thanh T có trú tại địa phương tuy nhiên mâu thuẫn gia đình địa phương không biết.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, việc giải quyết vụ án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo cho các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Còn bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến trình bày quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia quá trình tố tụng, do đó bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm đối với việc giải quyết vụ án: Đối với yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung của ông Nguyễn Duy T đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 58, 81 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận. Đề nghị HĐXX xử cho ông Nguyễn Duy T ly hôn với bà Trần Thị Thanh T; Về con chung giao 01 con chung là cháu Nguyễn Duy A, sinh ngày 31/10/2008 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 2.500.000đ/tháng; Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Duy T xác nhận không có và bà Trần Thị Thanh T không có ý kiến gì nên đề nghị HĐXX không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, bị đơn bà Trần Thị Thanh T có cư trú tại quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà Trần Thị Thanh T vắng mặt hai lần không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh T và ông Nguyễn Duy T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn tiếng nói chung, trên thực tế đã sống ly thân từ lâu. Trong quá trình giải quyết vụ án, tại các phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn bà Trần Thị Thanh T đều vắng mặt và cũng không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của ông T. Điều này thể hiện bà T cũng không có thiện chí muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung thực tế đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Duy T đối với bà Trần Thị Thanh T.

Về con chung: Ông Nguyễn Duy T xác nhận bà và bà Trần Thị Thanh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Duy A, sinh ngày 31/10/2008. Ly hôn ông có nguyện vọng giao con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 2.500.000đ/tháng. Xét thấy đây là sự tự nguyện của ông T, bà T cũng không có ý kiến gì, đồng thời nguyện vọng của cháu Nguyễn Duy A cũng muốn sống cùng mẹ nên chấp nhận. Căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cháu Nguyễn Duy A, sinh ngày 31/10/2008 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 2.500.000đ/tháng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 10/10/2023.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Duy T xác định không có và bà Trần Thị Thanh T cũng không có ý kiến gì nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông Nguyễn Duy T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 điều 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của ông Nguyễn Duy T đối với bà Trần Thị Thanh T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1985 được ly hôn với bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1988.

(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 112 ngày 21/8/2008 của Ủy ban nhân dân phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng không còn giá trị kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật)

2. Về quan hệ con chung: Giao 01 con chung tên Nguyễn Duy A, sinh ngày 31/10/2008 cho bà Trần Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Duy T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 2.500.000đ/tháng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 10/10/2023.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, người được thi hành án có đơn yêu cầu mà người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS 2015.

3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Ông Nguyễn Duy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001052 ngày 01/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Án phí cấp dưỡng: Ông Nguyễn Duy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ