- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2023/HNGĐ-ST Ngày: 10-8-2023 v/v “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG
TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Tấn Sinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Ky
Bà Thái Thị Dung
L ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Đắc Quốc Tuân – L ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 237/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2022/QĐHPT - HNGĐ, ngày 26 tháng 7 năm 2023; giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Bà Trần Thị Phƣơng Th, sinh năm: 1995.
Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện Tuy Phong, Bình Thuận. (Có mặt).
2/ Bị đơn: Ông Trần T, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Thôn M1, xã N, huyện Tuy Phong, Bình Thuận. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Phương Th trình bày: Bà và ông Trần T, sinh năm 1992; Lờng trú tại xóm 02, xã N, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tự nguyên sống chung với nhau vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số: 45/2015; Quyển số: 01/2015, ngày 07/9/2015. Cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nguyên nhân do ông T sống không có trách nhiệm với vợ con, vợ chồng Lờng xuyên cải nhau, đến tháng 11 năm 2020 mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên ông Trần T đã bỏ về nhà mẹ ruột sinh sống tại xóm 02, Thôn M1, xã N, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, ông T không có quay về sống chung với bà nữa. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2020 đến nay không còn ai quan tâm đến ai.
Khi nộp đơn tại Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, bà có liên hệ với ông Trần T về việc ly hôn tại Tòa án nhưng ông T cố tình lẫn tranh, không chịu đến Toà án để cùng tôi giải quyết vụ kiện ly hôn.
Nay cảm thấy vợ chồng không còn tình cảm, níu kéo cũng không có hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần T chứ bà không đồng ý trở về đoàn tụ.
- Về con chung: Ông, bà có 02 con chung tên Trần Thị Anh L, sinh ngày 19/12/2015 và Trần Thị Ái H, sinh ngày 10/11/2017. Hiện nay các con đang ở cùng bà nên bà xin tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cho đên khi trưởng thành và bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và nợ chung: bà Th không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và nợ chung.
Đối với bị đơn ông Trần T: Theo biên bản xác minh tại Ban tư pháp xã N, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận thì ông Trần T có hộ khẩu Lờng trú tại Thôn M1, xã N, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông Trần T theo đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật đã quy định nhưng ông T vẫn cố tình vắng mặt cũng như không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong phát biểu ý kiến kiểm sát về việc tuân theo pháp luật:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
Việc tuân theo pháp luật của L ký phiên tòa: L ký đã tuân thủ theo đúng quy định tại các Điều 237 và Điều 239 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:
Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Trần Thị Phương Th đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn ông Trần T không thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Về hôn nhân: Đề nghị tuyên xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Trần Thị Phương Th ly hôn với ông Trần T.
Về con chung: Ông, bà có 02 con chung tên Trần Thị Anh L, sinh ngày 19/12/2015 và Trần Thị Ái H, sinh ngày 10/11/2017. Giao 02 con chung tên Trần Thị Anh L và Trần Thị Ái H cho bà Trần Thị Phương Th tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành. Bà Th không yêu cầu ông Vinh cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Bà Trần Thị Phương Th phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Thị Phương Th khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần T, do đó đây là vụ án “Tranh chấp về ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Trần T có nơi cư trú tại Thôn M1, xã N, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Thị Phương Th thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa ông Trần T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo đúng quy định của pháp luật.
Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Theo lời trình bày của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì bà Trần Thị Phương Th và ông Trần T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số: 45/2015; Quyển số: 01/2015, ngày 07/9/2015 nên hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp.
Bà Th trình bày, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nguyên nhân do ông T sống không có trách nhiệm với vợ con, vợ chồng Lờng xuyên cải nhau, đến tháng 11 năm 2020 mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên ông Trần T đã bỏ về nhà mẹ ruột sinh sống tại xóm 02, Thôn M1, xã N, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, ông T không có quay về sống chung với bà nữa. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2020 đến nay không còn ai quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập nhưng ông Trần T không chấp hành, điều này chứng tỏ ông T không có thiện chí và không có mong muốn hàn gắn tình cảm với bà Th. Quá trình xác minh tại địa phương đều xác định bà Th và ông T đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2020 đến nay không còn ai quan tâm đến ai.
Nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Th và ông T đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự và để ổn định cuộc sống cho các bên, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Phương Th.
Về con chung: Ông, bà có có 02 con chung tên Trần Thị Anh L, sinh ngày 19/12/2015 và Trần Thị Ái H, sinh ngày 10/11/2017, hiện nay 02 con chung đang ở với bà Th; ngoài ra nguyện vọng của cháu L mong muốn được ở với mẹ Th. Vì vậy, để tránh xáo trộn cuộc sống của 02 cháu nên Hội đồng xét xử sẽ giao 02 con chung tên Trần Thị Anh L và Trần Thị Ái H cho bà Th tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành. Bà Th không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: bà Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết quan hệ này.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí: căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án thì bà Trần Thị Phương Th là người có yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc giải quyết ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.
2/ Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Phương Th đối với ông Trần T. Bà Trần Thị Phương Th được ly hôn với ông Trần T.
Về con chung: Ông, bà có có 02 con chung tên Trần Thị Anh L, sinh ngày 19/12/2015 và Trần Thị Ái H, sinh ngày 10/11/2017. Giao con chung tên Trần Thị Anh L và Trần Thị Ái H cho bà Trần Thị Phương Th tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành. Bà Th không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3/Về án phí: Bà Trần Thị Phương Th phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc giải quyết ly hôn. Bà Th đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai thu số 0017076 ngày 29/5/2023 của Chi cục T hành án dân sự huyện Tuy Phong, bà Th đã nộp đủ án phí.
4/ Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 10/8/2023). Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND (tỉnh+huyện); - Tòa án tỉnh; - Các đương sự; - THA huyện; - UBND xã N; - Lưu HS. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Tấn Sinh |