- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2023/HNGĐ-ST Ngày : 15/9/2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thành;
Bà Phan Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Phước là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Bình Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 37/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T - Sinh năm: 1989;
Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Kiên T - Sinh năm: 1986;
Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 05 tháng 01 năm 2023 của bà Nguyễn Thị T, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà và ông Lê Kiên T tự nguyện kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Bình Định vào ngày 28/3/2012.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 03 năm thì xảy ra mâu thuẫn với nguyên nhân: Tính tình không hợp nên thường xảy ra việc kình cải nhau. Lần cuối cùng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cắt đứt quan hệ nhau vào ngày 25/12/2020 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Lê Kiên T.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Lê Thùy Xuân T (giới tính: Nữ), sinh ngày 20/4/2013 và Lê Khả T (giới tính: Nữ), sinh ngày 28/9/2015; sức khỏe bình thường, khi nay đều ở với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung đến trưởng thành, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
* Bị đơn, ông Lê Kiên T đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự nhưng ông T vắng mặt không có lý do nên không cung cấp lời khai và yêu cầu.
* Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; đồng thời đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T, xử cho bà T được ly hôn với ông Lê Kiên T. Về con chung: Giao hai con chung tên Lê Thùy Xuân T (giới tính: Nữ), sinh ngày 20/4/2013 và Lê Khả T (giới tính: Nữ), sinh ngày 28/9/2015 cho bà Nguyễn Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, vì nguyện vọng hai con chung muốn ở với bà T. Ông T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, vì bà T không yêu cầu. Về tài sản chung, bà T không yêu cầu nên không xét. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn là ông Lê Kiên T đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự nhưng ông T vắng mặt không có lý do nên không cung cấp lời khai và yêu cầu. Tòa án niêm yết hợp lệ đến lần hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự thì Hội đồng vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Kiên T kết hôn vào ngày 28/3/2012 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Bình Định nên hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn với nguyên nhân: Tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cãi. Quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông T cắt đứt tình cảm từ ngày 25/12/2020 cho đến nay. Nay bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu ly hôn ông Lê Kiên T. Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ, tại biên bản xác minh ngày ngày 08/8/2023 của Công an xã T cung cấp: Ông Lê Kiên T có hộ khẩu ở thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định, số hộ 003637, ông T hiện là chủ hộ, hiện ông T vẫn ở địa phương chưa chuyển khẩu đi đâu. Việc ông T không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm gửi đến Tòa án chứng tỏ ông T không có trách nhiệm với hôn nhân của chính mình. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T, cho bà T được ly hôn ông T.
Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Thùy Xuân T (giới tính: Nữ), sinh ngày 20/4/2013 và Lê Khả T (giới tính: Nữ), sinh ngày 28/9/2015. Hai con chung khi nay ở với bà T. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con hai con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng: Hai con chung khi nay ở với bà T, ông T không quan tâm đến con, không có trách nhiệm với con. Vì vậy giao hai con chung tên Lê Thùy Xuân T và Lê Khả T cho bà T tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, bà T nhận trách nhiệm nuôi con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của bà T nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa giải quyết trong vụ án này nên không xét.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Cần buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0007690 ngày 03/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; bà T đã nộp xong án phí.
Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1, Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Lê Kiên T.
3. Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Thùy Xuân T (giới tính: Nữ), sinh ngày 20/4/2013 và Lê Khả T (giới tính: Nữ), sinh ngày 28/9/2015. Hai con chung khi nay ở với bà Nguyễn Thị T. Bà T được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu nên miễn xét.
Ông Lê Kiên T không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền thăm nom, chăm sóc, giúp đỡ con chung, không ai có quyền ngăn cản; nhưng nếu lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
4. Về tài sản chung: Bà Trần Thị T không yêu cầu Tòa giải quyết trong vụ án này nên không xét.
5. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0007690 ngày 03/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; bà T đã nộp xong án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Tây Sơn; - Chi cục THADS huyện Tây Sơn; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thành Tân |