- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con” của nguyên đơn bà Phạm Thị T. Bà Phạm Thị T được ly hôn với ông Lê Tấn T1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TINH NINH THUẬN Bản án số: 57/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12 - 6 - 2023 V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hường;
Ông Phạm Ngọc Minh.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Nhân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2023/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2023/QĐST-HPT, ngày 31/5/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1994 (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận
Bị đơn: Ông Lê Tấn T1, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn P, xã P1, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Phạm Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Bà với ông Lê Tấn T1 tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau 2018, có đến Ủy ban nhân dân xã P1, huyện N làm thủ đăng ký kết hôn vào năm 2018.
Qúa trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đến tháng 10-2022 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Lê Tấn T1 thường xuyên làm nợ nần, bà và gia đình ông Lê Tấn T1 phải thay ông Lê Tấn T1 trả nợ, bà đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông Lê Tấn T1 không chịu nghe. Ông Lê Tấn T1 không chịu chăm lo làm ăn để phụ giúp bà, ngoài ra ông Lê Tấn T1 còn có tính ghen tuông, nên hay chưỡi mắng đánh đập bà. Bà cũng nhiều lần tha thứ nhưng ông Lê Tấn T1 vẫn tính nào tật đó.
Bà với ông Lê Tấn T1 đã sống ly thân với nhau từ tháng 10-2022 cho đến nay không quan tâm đến nhau.
Nay bà thấy không còn tình cảm với ông Lê Tấn T1, nên yêu cầu ly hôn với ông Lê Tấn T1.
Bà đang làm nghề buôn bán, thu nhập bình quân hàng tháng từ 10.000.000đ
Về con chung: Bà với ông Lê Tấn T1 sống với nhau, có 01 con chung tên Lê Tấn Huy H, sinh ngày 04-7-2018 hiện con chung đang sống với bà, nếu ly hôn bà yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Bị đơn ông Lê Tấn T1 vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng:
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử (Hội đồng xét xử được viết tắt là HĐXX). Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi HĐXX nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị T. Cho bà Phạm Thị T được ly hôn với ông Lê Tấn T1, giao con chung tên Lê Tấn Huy H, sinh ngày 04-7-2018 cho bà Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lê Tấn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Buộc bà Phạm Thị T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án, HĐXX xác định: Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Bị đơn hiện đang cư trú tại thôn P, xã P1, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N.
. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa hôm nay ông Lê Tấn T1 vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông Lê Tấn T1.
. Về nội dung vụ án:
. Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa xác định được bà Phạm Thị T và ông Lê Tấn T1 kết hôn vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P1, huyện N theo giấy chứng nhận kết hôn số 99 ngày 13-9-2018. Do đó, hôn nhân giữa bà Phạm Thị T và ông Lê Tấn T1 là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà Phạm Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn ông Lê Tấn T1, vì tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gay gắt, trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm nhau từ năm 2022 đến nay, tình cảm vợ chồng đã hết. Vì vậy, bà yêu cầu được ly hôn với ông Lê Tấn T1. Đối với bị đơn ông Lê Tấn T1 dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ, các văn bản tố tụng nhiều lần theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vẫn cố tình không đến. Bị đơn ông Lê Tấn T1 vắng mặt xem như từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chứng tỏ yêu cầu khởi kiện ly hôn và lời khai của bà Phạm Thị T là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Phạm Thị T và ông Lê Tấn T1 đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng đã hết, hiện đã sống không quan tâm đến nhau, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về con chung: Bà Phạm Thị T trình bày bà với ông Lê Tấn T1 sống với nhau có 01 con chung tên Lê Tấn Huy H, sinh ngày 04-7-2018, bà Phạm Thị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét về yêu cầu trực tiếp nuôi con của bà Phạm Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi sống ly thân với ông Lê Tấn T1 thì con chung do bà Phạm Thị T chăm sóc chu đáo và phát triển bình thường, vì vậy nên giao con chung tên Lê Tấn Huy H, sinh ngày 04-7-2018 cho bà Phạm Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lê Tấn T1 không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Phạm Thị T không yêu cầu, là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
. Về tài sản, nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
. Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà Phạm Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện N tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con” của nguyên đơn bà Phạm Thị T. Bà Phạm Thị T được ly hôn với ông Lê Tấn T1.
2. Về con chung: Giao con chung Lê Tấn Huy H, sinh ngày 04-7-2018 cho bà Phạm Thị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. (Hiện con chung đang sống với bà Phạm Thị T).
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Bà Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Tòa án đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007436 ngày 13-4-2023 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Bà Phạm Thị T đã nộp đủ án phí.
4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - UBND xã P1, N; - Các đương sự; - Lưu HS, AV. Hội thẩm nhân dân Phạm Ngọc Minh Lê Thị Hường Bình | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Bình Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh |