vanban.org

Bản án 57/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Th về việc xin ly hôn với anh Mai Quang T. Xử cho chị Vũ Thị Th được ly hôn với anh Mai Quang T. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Mai Quang A, sinh ngày 07/10/2014 và cháu Mai Quang D, sinh ngày 29/6/2017 cho chị Vũ Thị Th trực tiếp nu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Th - Th"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15/5/2023
V/v: “Tranh chấp về ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Huynh.

Bà Lê Thị Ánh Sáng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử công khai vụ án thụ lý số 808/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Th, sinh năm: 1994 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp H, xã Th, huyện Long T, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Mai Quang T, sinh năm: 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp H, xã Th, huyện Long T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 9 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Vũ Thị Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Mai Quang T kết hôn với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Long T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 20/9/2013. Quá trình chung sống vợ chồng sống không hạnh phúc, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi vã nhau. Nay xét thấy tình cảm giữa chị và anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên chị xin được ly hôn với anh Mai Quang T.

Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là cháu Mai Quang A, sinh ngày 07/10/2014 và cháu Mai Quang D, sinh ngày 29/6/2017. Ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Mai Quang A và giao cháu Mai Quang D cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Mai Quang T đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến Tòa làm việc nên không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long T:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Từ khi thụ lý, quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Chị Th và anh T là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th, huyện Long T, tỉnh Đồng Nai vào ngày 20/9/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau về vấn đề tiền bạc, anh chị đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Anh T mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai chứng tỏ cố ý bỏ mặc hôn nhân. Vì vậy, có cơ sở xác định mối quan hệ vợ chồng giữa anh T và chị Th là không thể hàn gắn, đoàn tụ được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Th đối với anh T.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Mai Quang A, sinh ngày 07/10/2014 và cháu Mai Quang D, sinh ngày 29/6/2017. Chị Th yêu cầu nuôi dưỡng cháu Anh, giao cháu D cho anh T nuôi dưỡng, không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai. Cháu Anh có nguyện vọng được sống với mẹ. Xét thấy, hiện nay cháu D đang sống với mẹ, ngoài ra trong quá trình Tòa án làm việc anh T đều vắng mặt không lấy được lời khai. Vì vậy, căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Anh, cháu D cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng, tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung; Nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của Nghị quyết 326/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Mai Quang T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Vũ Thị Th có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Th.

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn. Bị đơn anh Mai Quang T có đăng ký thường trú và đang sinh sống tại xã Th, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

. Về nội dung: Chị Vũ Thị Th và anh Mai Quang T có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th, huyện Long T, tỉnh Đồng Nai vào ngày 20/9/2013. Quá trình chung sống do tính tình vợ chồng không hòa hợp nên thường xảy ra mâu thuẫn. Nay xét thấy mục đích hôn nhân không đạt, chị Th xin ly hôn anh T tại Tòa án.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị Th về việc xin ly hôn với anh Mai Quang T thì thấy rằng: Chị Th, anh T kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th, huyện Long T, tỉnh Đồng Nai vào ngày 20/9/2013 nên xác định hôn nhân giữa chị Th, anh T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Mặt khác trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Tòa án đã nhiều lần gửi giấy triệu tập làm việc, hòa giải nhưng anh T không đến Tòa làm việc chứng tỏ việc anh T bỏ mặc hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn xây dựng gia đình. Xét thấy, vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, quá trình ly thân đã lâu nhưng vợ chồng không bàn bạc đoàn tụ chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt. Do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th, xử cho chị Vũ Thị Th được ly hôn anh Mai Quang T.

Về con chung: Chị Th, anh T có 02 con chung là cháu Mai Quang A, sinh ngày 07/10/2014 và cháu Mai Quang D, sinh ngày 29/6/2017. Ly hôn chị Th có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Quang A và đồng ý giao cháu Quang D cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời ai phải cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu về việc nuôi con của chị Th thì thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án cháu Quang A có nguyện vọng được ở với chị Th còn cháu Quang D hiện nay đang còn nhỏ nên cần sự chăm sóc, giáo dục của người mẹ. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập nhưng anh T không đến Tòa án làm việc và cũng không cung cấp cho Tòa án ý kiến về việc có đồng ý nuôi cháu D hay không. Do đó để đảm bảo cho sự phát triển một cách toàn diện của các con thì cần tiếp tục giao cháu Anh, cháu D cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng do chị Th không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

. Về án phí: Chị Th là người nộp đơn xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 235, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000; Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Th về việc xin ly hôn với anh Mai Quang T. Xử cho chị Vũ Thị Th được ly hôn với anh Mai Quang T.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Mai Quang A, sinh ngày 07/10/2014 và cháu Mai Quang D, sinh ngày 29/6/2017 cho chị Vũ Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn chị Th, anh T vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Anh T có quyền thăm nom con; không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét.

4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét.

5. Về án phí: Chị Vũ Thị Th phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0006312 ngày 21/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long T, tỉnh Đồng Nai. Chị Th đã nộp đủ án phí.

Chị Th, anh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. * Nơi nhận :

Cỡ chữ