vanban.org

Bản án 57/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Hà Thị K.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hà Thị K được ly hôn với anh Hoàng Tấn K. Về con chung: Chị Hà Thị K và anh Hoàng Tấn K có 01 con chung là cháu Hoàng Hà Tố U, sinh ngày 29/4/2013. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Thị K-Hoàng Tấn K"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Hà Thị K.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2023/HNGĐ-ST.
Ngày 15/9/2023.
“V/v xin ly hôn, nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà H’Năm Bkrông.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nông Thanh Tùy.

Bà Phan Thị Nhường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lường – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2023 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 325/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2023 về việc “Xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2023/QĐST-HPT ngày 11/9/2023 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Hà Thị K, sinh năm: 1995.

Hộ khẩu thường trú: Thôn P1, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Chỗ ở hiện nay: Số nhà 02 N, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2.Bị đơn: Anh Hoàng Tấn K, sinh năm: 1992.

Địa chỉ: Thôn P1, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Trong đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Hà Thị K trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị K và anh Hoàng Tấn K tự do tìm hiểu, yêu thương nhau và đến với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 24/7/2013.

Quá trình chung sống, những năm đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Nhưng từ năm 2016, vợ chồng thường xảy ra cãi nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn không cùng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau nên chị K và anh K đã sống ly thân với nhau từ năm 2016 đến nay. Nhận thấy không thể quay lại để tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị K đã làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị K được ly hôn với anh Hoàng Tấn K.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị K và anh K có 01 (một) con chung là cháu Hoàng Hà Tố U, sinh ngày 29/4/2013. Chị K có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Uyên cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hà Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hà Thị K không yêu cầu Toà án giải quyết.

2.Bị đơn anh Hoàng Tấn K: Trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không tham gia tố tụng nên Tòa án không ghi được lời khai.

Qua xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị Hà Thị K và anh Hoàng Tấn K, chính quyền địa phương cho biết: Chị Hà Thị K và anh Hoàng Tấn K là vợ chồng, có chung sống tại thôn P1, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk một thời gian. Đến năm 2016 thì chị K về nhà cha mẹ đẻ sinh sống và ly thân với anh K từ đó đến nay. Quá trình chung sống, chị K và anh K có mâu thuẫn hay không thì ban tự quản thôn không nhận được đơn yêu cầu hòa giải, can thiệp về hôn nhân của chị K và anh K. Chị K và anh K có 01 con chung, hiện nay con chung đang sinh sống cùng chị K ở bên nhà ngoại. Chị K và anh K làm công việc gì và thu nhập hàng tháng bao nhiêu ban tự quản thôn không nắm được.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thẩm phán chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung vụ án:

+ Đối với quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay có thể xác định tình trạng hôn nhân của chị Hà Thị K và anh Hoàng Tấn K mâu thuẫn trầm trọng, chị Hà Thị K và anh Hoàng Tấn K đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị K.

+ Về con chung: Có 01 con chung là cháu Hoàng Hà Tố U, sinh ngày 29/4/2013, quá trình giải quyết vụ án, chị Hà Thị K có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu trưởng thành. Xét thấy, nguyện vọng của chị K là chính đáng, đảm bảo cho sự phát triển của các con, phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy căn cứ vào khỏan 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Hoàng Hà Tố U, sinh ngày 29/4/2013 cho chị Hà Thị K nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành.

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn chị Hà Thị K không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

+ Đối với tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn chị Hà Thị K không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

Từ những nhận định nêu trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hà Thị K được ly hôn với anh Hoàng Tấn K.

Về con chung: Giao cháu Hoàng Hà Tố U, sinh ngày 29/4/2013 cho chị Hà Thị K nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hà Thị K không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Đối với tài sản chung và nợ chung: Chị Hà Thị K không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, xem xét ý kiến của nguyên đơn, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1].Về quan hệ pháp luật: Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và loại tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

.Về trình tự thủ tục tố tụng: Xét thấy bị đơn anh Hoàng Tấn K mặc dù đã được triệu tập hơp lệ nhưng vắng mặt, nguyên đơn chị Hà Thị K có đơn xin giải quyết vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

.Về nội dung:

3.1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị K và anh Hoàng Tấn K có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 24/7/2013, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Hà Tố U, sinh ngày 29/4/2013. Sau một thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống bất đồng nên anh chị đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, chị K xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Hà Thị K và anh Hoàng Tấn K đã đến mức trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ năm 2016 đến nay mà không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình, chị K xác định tình cảm không còn và kiên quyết xin ly hôn. Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, biên bản xác minh tại địa phương nơi vợ chồng chung sống thì xác định được, vợ chồng chị K, anh K đã sống ly thân một thời gian dài. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Hà Thị K và anh Hoàng Tấn K không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị K, cho chị Hà Thị K được ly hôn với anh Hoàng Tấn K.

3.2.Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Hà Tố U, sinh ngày 29/4/2013, quá trình giải quyết vụ án, chị Hà Thị K có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Uyên do cháu đang sống cùng mẹ. Xét thấy, nguyện vọng của chị K là chính đáng, đảm bảo cho sự phát triển của con, phù hợp với quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, quá trình giải quyết vụ án anh K vắng mặt nên không thể xác định được nguyện vọng của anh đối với con chung. Vì vậy cần giao cháu Hoàng Hà Tố U, sinh ngày 29/4/2013 cho chị Hà Thị K nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định tại khỏan 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Anh Hoàng Tấn K được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên anh K không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

-Về cấp dưỡng con nuôi chung: Chị Hà Thị K không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

3.3.Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Chị Hà Thị K không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

. Về án phí: Chị Hà Thị K phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Xét ý kiến, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Hà Thị K.

-Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hà Thị K được ly hôn với anh Hoàng Tấn K.

-Về con chung: Chị Hà Thị K và anh Hoàng Tấn K có 01 con chung là cháu Hoàng Hà Tố U, sinh ngày 29/4/2013.

Giao cháu Hoàng Hà Tố U, sinh ngày 29/4/2013 cho chị Hà Thị K nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Anh Hoàng Tấn K được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên anh K không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

-Về cấp dưỡng con nuôi chung: Nguyên đơn chị Hà Thị K không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

-Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn chị Hà Thị K không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

-Về án phí: Nguyên đơn Chị Hà Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số AA/2022/0003251 ngày 03/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

-Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Đắk Lắk;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện K;

- Chi cục THADS huyện K;

- Các đương sự;

- Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có);

- UBND xã E, huyện K;

(Đã ký)

- Lưu hồ sơ.

H’Năm Bkrông

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa

H’Năm Bkrông Nông Thanh Tùy

Phan Thị Nhường *Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

SƠ THẨM -TAND tỉnh Đắk Lắk;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên

tòa -VKSND H.Krông Pắc; -Chi

cục

THADS H.Krông Pắc; -UBND xã E, H.Krông Pắc; -Các đương sự;

H’ Năm Bkrông -Lưu hồ sơ, TA.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa

Võ Thanh Hà Phạm Thị Thường

Lý Viết Chấn Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Đắk Lắk;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện K;

- Chi cục THADS huyện K;

- Các đương sự;

- Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có);

- UBND xã Krông Búk, huyện K;

- Lưu hồ sơ.

Võ Thanh Hà

Bản án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

Cỡ chữ