- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hữu Thị Bé H - Huỳnh Văn S"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2023/HNGĐ-ST Ngày 26 tháng 6 năm 2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Tấn Phước
Ông Lê Việt Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H,
tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên
tòa: Ông Văn Hữu Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ
thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2023/QĐXX-ST ngày 23 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hữu Thị Bé H - sinh năm 1978
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn H1, huyện H, tỉnh Bạc Liêu
Bị đơn: Ông Huỳnh Văn S - sinh năm 1974
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn H1, huyện H, tỉnh Bạc Liêu
(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt; ông S vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/02/2023 và các lời khai trong quá trình tố
tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Hữu Thị Bé H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông S tự nguyện chung sống với nhau như vợ
chồng từ năm 2008, có đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 22/11/2010. Thời gian đầu sống chung hạnh phúc, từ năm 2013 đến nay vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm và cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống hôn nhân. Nay bà H nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với ông S.
Về con chung: Quá trình chung sống bà H và ông S có 01 con chung tên
Huỳnh Văn T, sinh ngày 15/7/2009 hiện đang sống với ông S, ngoài ra không còn con chung nào khác. Nay ly hôn bà H yêu cầu giao con chung la cháu Trọng cho ông S tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con sẽ tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Huỳnh Văn S, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống
đạt các văn bản tố tụng cho ông S theo quy định nhưng ông S không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng cho ông S; ông S cũng không có mặt tham gia tố tụng tại Tòa trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án; ông S đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có mặt tại Tòa án, Tòa án đến nhà của ông S để làm việc nhưng không gặp nên không có lời khai.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Xét thấy, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
bà Hữu Thị Bé H, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông S. Về con chung, đề nghị giao 01 con chung tên Huỳnh Văn T cho ông S nuôi dưỡng, về cấp dưỡng do bà H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung không có và không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem
xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận:
Về tố tụng:
Bà H yêu cầu ly hôn với ông S, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và
gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông S cư trú tại thị trấn H1, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân huyện H thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà H có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt, ông S đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông S.
Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông S tự nguyện chung sống với nhau
như vợ chồng vào năm 2008, có đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 22/11/2010 nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Theo bà H, nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do không hợp lối
sống, bất đồng quan điểm, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn từ năm 2013 đến nay, nay bà H xác định không còn tình cảm với ông S nữa nên cương quyết yêu cầu ly hôn. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho ông S nhưng ông S không quan tâm, quá trình giải quyết vụ án ông S không lần nào đến Tòa án và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà H. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, yêu thương, tôn trọng lẫn nhau và cùng nhau chăm sóc gia đình nhưng nay bà H cương quyết xin ly hôn với ông S mà ông S không có thiện chí hòa giải cũng không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ sự mâu thuẫn, rạn nứt trong quan hệ hôn nhân của anh chị không có khả năng hàn gắn lại được. Mặt khác, hôn nhân được duy trì bền vững lâu dài và hạnh phúc là trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên, bà H yêu cầu được ly hôn và xác định không thể tiếp tục chung sống với ông S thì việc chung sống không được tự nguyện cũng sẽ dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H, cho bà H được ly hôn với ông S.
[2] Về con chung: Quá trình chung sống bà H và ông S có 01 con chung tên
Huỳnh Văn T, sinh ngày 15/7/2009 hiện đang sống với ông S, ngoài ra không còn con chung nào khác. Nay ly hôn bà H yêu cầu giao con chung là cháu T cho ông S tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng sẽ tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu T, cháu T có
nguyện vọng ở với cha, đây là sự tự nguyện của cháu T, không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định pháp luật. Do đó, việc giao cháu T cho ông S nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi và phù hợp với nguyện vọng của cháu T nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu Trọng cho ông S trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu
Huỳnh Văn T, sinh ngày 15/7/2009 cho ông S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Hữu Thị Bé H có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra
xem xét, giải quyết.
[3] Về tài sản chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem
xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải
quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Hữu Thị Bé H
phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Từ các phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp
nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2
Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Khoản 1 Điều 53, Điều 56; Điều 81 và Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia
đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Hữu
Thị Bé H đối với ông Huỳnh Văn S. Xử cho bà Hữu Thị Bé H được ly hôn với ông Huỳnh Văn S.
2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Văn T, sinh ngày 15/7/2009 cho ông
Huỳnh Văn S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Hữu Thị Bé H có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải
quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.
4. Về án phí: Bà Hữu Thị Bé H phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia
đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Bà H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011389 ngày 06/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H được chuyển thu án phí.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản
án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bạc Liêu; -VKSND huyện H; -CCTHADS huyện H; -Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Tâm |