- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Bảo Trân và Lý Văn Lực Em"
- Tòa quyết gì? * Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Bảo T là được ly hôn với anh Lý Văn Lực E. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 123 ngày 05/12/2018 do Uỷ ban nhân dân xã VH (huyện CT, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG Bản án số: 57/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11/5/2023. Về việc: “Tranh chấp về Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt;
2. Bà Trần Thị Quế Minh.
* Thư ký phiên tòa: Bà Cù Thị Kim Mai - Thư ký Tòa án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 454/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp về Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/3/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bảo T, sinh năm 1998;
Nơi cư trú: Tổ 37, ấp ĐN, xã VT, huyện CT, An Giang.
2. Bị đơn: Anh Lý Văn Lực E, sinh năm 1996;
Nơi cư trú: ấp VT, xã VH, huyện CT, An Giang.
(Vắng mặt bị đơn anh Lý Văn Lực E; Đã tống đạt hợp lệ)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bảo T và lời khai tại phiên tòa có nội dung như sau: Chị Nguyễn Thị Bảo T đã quen và sống chung với anh Lý Văn Lực E từ năm 2016, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Uỷ ban nhân dân xã VH, huyện CT, An Giang (giấy đăng ký kết hôn số 123 ngày 05/12/2018). Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 02/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tôn trọng nhau, thường xuyên cãi nhau làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và đã sống ly thân nhau cho đến nay. Vợ chồng sống chung chưa có con chung.
Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị Bảo T yêu cầu được ly hôn với anh Lý Văn Lực E; Về con chung không có; Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
* Về phía bị đơn anh Lý Văn Lực E thì: Toà án đã nhiều lần gửi Thông báo đến gia đình nhằm tạo điều kiện hoà giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng anh Lực E đều vắng mặt không lý do. Qua chứng cứ thu thập được thì anh Lý Văn Lực E có nơi cư trú tại ấp VT, xã VH, huyện CT, An Giang; Hiện tại anh Lý Văn Lực E thường xuyên không có mặt tại địa phương, những Thông báo của Tòa án gửi thì gia đình ký nhận thay nhưng vẫn không có mặt. Vì vậy, Tòa án đã thông qua Thừa phát lại thực hiện các thủ tục tố tụng để mở phiên tòa xét xử theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:
Về tố tụng: Đây là Tranh chấp hôn nhân gia đình về Ly hôn, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, bị đơn anh Lý Văn Lực E vắng mặt lần thứ hai căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bảo T đã thừa nhận có sống chung như vợ chồng với anh Lý Văn Lực E từ năm 2016, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; Nay do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị Bảo T xin được ly hôn với anh Lực E. Xét thấy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; Cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị Bảo T và anh Lực E đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại, Tòa án nhiều lần mời anh Lý Văn Lực E để hòa giải cho anh, chị đoàn tụ nhưng anh Lực E không còn quan tâm đến cuộc sống vợ chồng, vẫn không có mặt. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa anh, chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Bảo T là được ly hôn với anh Lý Văn Lực E.
Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Bảo T xác định không có con chung với anh Lý Văn Lực E và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Về quan hệ tài sản, nợ chung: Các bên tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết.
Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do chị Nguyễn Thị Bảo T có yêu cầu ly hôn với anh Lý Văn Lực E nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điểm a khoản 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Xử:
* Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Bảo T là được ly hôn với anh Lý Văn Lực E. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 123 ngày 05/12/2018 do Uỷ ban nhân dân xã VH (huyện CT, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.
* Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Không có, không yêu cầu giải quyết.
* Về quan hệ tài sản, nợ chung: Tự thỏa thuận.
* Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Bảo T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0003830 ngày 13/10/2022 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, An Giang; Được khấu trừ nên chị Nguyễn Thị Bảo T đã nộp xong.
Báo cho đương sự có mặt tham dự phiên tòa biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Văn Lực E có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND H. Châu Thành (1); - Chi cục THADS H. Châu Thành (1); - Các đương sự (2); - UBND xã VH (1); - Lưu văn phòng (1); - Lưu hồ sơ vụ án (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |