vanban.org

Bản án 57/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lại Thị T. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Minh D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM MỸ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/6/2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Thanh Không

2/ Bà Phạm Ngọc Nhung

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Thái Học, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 06 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 536/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 06 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Lại Thị T, sinh năm: 1995

ĐKTT và nơi cư trú: ấp Đ, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: anh Nguyễn Minh D, sinh năm: 1996

ĐKTT và nơi cư trú: ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1974.

ĐKTT và nơi cư trú: ấp Đ, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

2. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1964.

ĐKTT và nơi cư trú: ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

(Chị T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh D vắng mặt không có lý do, bà N và bà C vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Lại Thị T trình bày:

Trên cơ sở tự nguyện, chị Lại Thị T và anh Nguyễn Minh D tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai vào ngày 31/7/2020. Đây là hôn nhân lần đầu của anh chị. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đình chị và hạnh phúc đến cuối năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn, do vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, không thống nhất được nơi ở và công việc làm ổn định kinh tế gia đình, nên thường xuyên cãi vã, nhiều lần anh D bỏ nhà đi và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7/2022. Nay vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hòa giải đoàn tụ, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Minh D.

Về con chung: Anh chị có con chung là cháu Nguyễn Ngọc Khánh A, sinh ngày 21/09/2020, hiện đang sống cùng chị. Nay chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: chị T trình bày không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Minh D đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai.

- Theo lời khai của người làm chứng bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà là mẹ ruột của chị T. Từ khi kết hôn vợ chồng anh D, chị T sống cùng với gia đình bà. Đến khoảng đầu năm 2022 thì vợ chồng anh D và chị T xảy ra mâu thuẫn trong việc sắp xếp chổ ở và việc làm của vợ chồng nên xảy ra nhiều cãi vã. Từ khoảng tháng 6/2022 thì anh D bỏ nhà đi và vợ chồng anh D, chị T sống ly thân từ đó cho đến nay. Anh D cũng không còn qua lại thăm con, hàng ngày bà là người phụ giúp cho chị T chăm sóc con để đi làm.

- Theo lời khai của người làm chứng bà Nguyễn Thị C trình bày:

Bà là mẹ ruột của anh D. Từ khi kết hôn vợ chồng anh D và chị T sống cùng với gia đình chị T để tiện công việc làm và chăm sóc gia đình, nhưng không rõ lý do gì từ khoảng tháng 7/2022 thì anh D một mình chuyển về sống cùng bà cho đến nay.

- Đại diện Viện kiểm sát huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành pháp luật và nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Riêng bị đơn chưa chấp hành đầy đủ và vắng mặt không có lý do, nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.

Về đường lối giải quyết: áp dụng các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Lại Thị T ly hôn anh Nguyễn Minh D; về con chung: giao cháu Nguyễn Ngọc Khánh A, sinh ngày 21/09/2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh D tạm thời không phải cấp dương nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: các đương sự khai không có, không ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết; về án phí sơ thẩm: theo quy định pháp luật.

Kiến nghị khắc phục: không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lại Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con với anh Nguyễn Minh D. Anh D có đăng ký thường trú và đang sinh sống tại ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Nên căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ kiện này là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng chị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh D vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị T và anh Nguyễn Minh D tự nguyện chung sống và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai vào ngày 31/7/2020 nên xác định là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Qua quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ:

Theo trình bày của nguyên đơn và tại Biên bản xác minh ngày 25/3/2023 tại Công an xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai và cùng lời khai của bà Nguyễn Thị N là mẹ ruột chị T, lời khai bà Nguyễn Thị C là mẹ ruột anh D xác định, anh D và chị T kết hôn với nhau từ năm 2020 và chung sống tại ấp Đ, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình chung sống, anh chị xảy ra mâu thuẫn do không có tiếng nói chung trong cuộc sống sinh hoạt, không thống nhất sắp xếp được chỗ ở cũng như công việc làm nên thường xuyên cãi vã và từ tháng 7/2022 vợ chồng anh chị đã sống ly thân. Anh Nguyễn Minh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, hòa giải, xét xử, nhưng đều vắng mặt không có lý do, không có lời trình bày, chứng tỏ anh D không muốn hòa giải để vợ chồng hằn gắn đoàn tụ. Từ đó xác định tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị T là có cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

- Về con chung: Chị T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Ngọc Khánh A, sinh ngày 21/09/2020 và không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy yêu cầu của chị T phù hợp quy định của pháp luật, cháu A còn nhỏ cần sự chăm sóc từ người mẹ, bản thân chị T cũng có việc làm và chỗ ở ổn định đủ điều kiện để nuôi con. Anh D cũng được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh không đến Tòa án để làm việc nên không có lời khai về vấn đề này. Do đó có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của chị T.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh D không có lời khai về việc này, nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lại Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Minh D.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Khánh A, sinh ngày 21/09/2020 cho chị Lại Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Tạm thời anh Nguyễn Minh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Minh D được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của trẻ khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lại Thị T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị T đã nộp sang án phí theo biên lai thu tiền số 0001708 ngày 12 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đồng Nai.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ