- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L và Đặng Văn L"
- Tòa quyết gì? Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Đặng Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2023/HNGĐ-ST Ngày 21-9-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phùng Ngọc Anh;
Bà Lưu Thị Chi.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 73/2023/TLST- HNGĐ, ngày 14 tháng 7 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 738/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 786/2023/QĐST-DS, ngày 08 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Đặng Văn L, nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 6 năm 2023 và các bản tự khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị và anh Đặng Văn L kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dânxã T, huyện A, thành phố Hải Phòng ngày 06 tháng 5 năm 1995. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận thời gian đầu đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do không tin tưởng nhau về tình cảm, bất đồng quan điểm, không chia sẻ, cảm thông với nhau từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Cuộc sống ngột ngạt, căng thẳng, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Chị L xác định không còn tình cảm với anh L nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đặng Văn L. Về con chung: Chị và anh L có 02 con chung là Đặng Đức T, sinh năm 1996 và Đặng Trung H, sinh ngày 12 tháng 11 năm 2005. Cháu T đã trưởng thành đủ 18 nên vấn đề cấp dưỡng chị L không yêu cầu Toà giải quyết. Ly hôn chị L đề nghị được nuôi cháu Đặng Trung H, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đặng Văn L đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh không đến tòa án để giải quyết việc chị Nguyễn Thị L xin ly hôn và nuôi con nên không có lời khai của anh Đặng Văn L.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L đã cơ bản tuân thủ đúng các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Đặng Văn L không tuân thủ các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Đặng Văn L; về con chung: Giao con Đặng Trung H, sinh ngày 12 tháng 11 năm 2005 cho chị Nguyễn Thị L nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh L. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị L có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với anh Đặng Văn L, địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Đặng Văn L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị L và anh Đặng Văn L.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Đặng Văn L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dânxã T, huyện A, thành phố Hải Phòng ngày 06 tháng 5 năm 1995 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hoà thuận thời gian đầu đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do không tin tưởng nhau về tình cảm, bất đồng quan điểm, không chia sẻ, cảm thông với nhau từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Cuộc sống chung ngột ngạt, căng thẳng vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Địa phương và gia đình cũng xác nhận tình trạng mâu thuẫn giữa anh, chị đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị L có đơn xin ly hôn anh L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Đặng Văn L có có 02 con chung là Đặng Đức T, sinh năm 1996 và Đặng Trung H, sinh ngày 12 tháng 11 năm 2005. Cháu T đã trưởng thành đủ 18 nên vấn đề cấp dưỡng chị L không yêu cầu Toà giải quyết. Ly hôn chị L đề nghị được nuôi cháu Đặng Trung H, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Đặng Văn L đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh không đến tòa án nên không có ý kiến về vấn đề con chung. Xét, hiện tại cháu H đang sống cùng mẹ, cháu H đã có ý kiến được ở với chị L. Bên cạnh đó, chị L là công nhân có thu nhập 6 triệu đồng/ tháng và có chỗ ở ổn định. Do đó, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao con Đặng Trung H, sinh ngày 12 tháng 11 năm 2005 cho chị Nguyễn Thị L nuôi dưỡng là phù hợp. Chị L không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147; Điều 235 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Đặng Văn L.
2. Về con chung: Giao con Đặng Trung H, sinh ngày 12 tháng 11 năm 2005 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị L đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005732 ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Nguyễn Thị L và anh Đặng Văn L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.Hải Phòng; - VKSND huyện An Lão; - Chi cục THADS huyện An Lão; - Các đương sự; - UBNDxã T; - Lưu: Hồ sơ; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |