vanban.org

Bản án 57/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Lưu Thu H (Lưu Thị H)

Về con chung chưa thành niên: Giao cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Bảo H, sinh ngày 27/12/2014. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Tkhông yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Sau này, chị H trở về có quyền thăm nom con chung khi ly hôn, không ai được cản trở quyền này. Về án p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn T xin ly hôn chị Lưu Thị H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Lưu Thu H (Lưu Thị H)
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16-6-2023.
V/v: “Ly hôn giữa anh T và chị H ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Hải Anh.

Ông Trần Xuân Chỉnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 58/2023/TLST-HNGĐ ngày 17/4/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15/5/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T ; Sinh năm: 1986(Vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Thôn Tân Giang, xã N, huyện N , tỉnh Nam Định.

Nơi ở: Thôn T, xã N, huyện N , tỉnh Nam Định.

Bị đơn:Chị Lưu Thị H; Sinh năm: 1986(Vắng mặt)

Tên gọi khác Lưu Thu H

Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N , tỉnh Nam Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/3/2023 và toàn bộ quá trình tố tụng nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Anh và chị Lưu Thu H kết hôn vào ngày tháng 7/2013, quá trình tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N , tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống, vợ chồng không có mâu thuẫn gì nhưng do chị H mang bầu nên mắc bệnh trầm cảm. Từ tháng 6/2018, chị H bỏ nhà đi đâu không ai biết, anh không có tin tức gì của chị H . Ngày 30/11/2022, anh đã đề nghị và được Tòa án nhân dân huyện N tuyên bố chị H là người mất tích. Cho đến nay, anh không có tin tức gì của chị H . Vì vậy, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với chị Lưu Thu H .

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là Nguyễn Bảo H, sinh ngày 27/12/2014. Hiện con chung đang ở cùng anh. Nay ly hôn, anh đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn T vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Bị đơn chị Lưu Thu H ( Lưu Thị H) đã bị Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tuyên bố là người mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 03/2022 ngày 30/11/2022. Tại phiên tòa, chị H vắng mặt.

Kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án tại chính quyền địa phương cho thấy: Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn của anh Tvà chị H , UBND xã không nắm được do các đương sự nộp đơn tại Tòa án, địa phương không tổ chức hòa giải.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Lưu Thu H (Lưu Thị H). Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Bảo H, sinh ngày 27/12/2014. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Tkhông yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Sau này, chị H trở về thì có quyền thăm nom con chung khi ly hôn, không ai được cản trở quyền này. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Văn T và chị Lưu Thu H ( Lưu Thị H) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn T có đơn xin giải quyết vắng mặt. Chị Lưu Thu H (Lưu Thị H) đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về việc kết hôn: Anh Nguyễn Văn T và chị Lưu Thu H (Lưu Thị H) kết hôn vào ngày 13 tháng 7 năm 2013, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện N , tỉnh Nam Định. Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Về quan hệ hôn nhân: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị H mắc bệnh trầm cảm. Từ tháng 6/2018, chị H bỏ nhà đi đâu không ai biết, không có tin tức gì của chị H . Ngày 30/11/2022, anh đã đề nghị và được Tòa án nhân dân huyện N tuyên bố chị H là người mất tích Nay anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H . Xét thấy, cuộc hôn nhân giữa anh T và chị H nếu có duy trì thì mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn T đối với chị Lưu Thu H (Lưu Thị H).

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là Nguyễn Bảo H, sinh ngày 27/12/2014. Hiện con chung đang ở cùng anh. Trên cở sở xem xét yêu cầu của đương sự cũng như nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử thấy: Cần giao cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi con chung. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Sau này, chị H trở về có quyền thăm nom con chung khi ly hôn, không ai được cản trở quyền này.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Sau này nếu chị H trở về và có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn T phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T và chị Lưu Thu H (Lưu Thị H) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Lưu Thu H (Lưu Thị H)

2. Về con chung chưa thành niên: Giao cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Bảo H, sinh ngày 27/12/2014. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Tkhông yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Sau này, chị H trở về có quyền thăm nom con chung khi ly hôn, không ai được cản trở quyền này.

3.Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn T phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực theo biên lai thu số 0004922 ngày 17/4/2023.

4.Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T và chị Lưu Thu H (Lưu Thị H) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ