- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông H kiện bà V, ông E trả số tiền vay còn nợ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2023/DS-ST Ngày 14 - 7 - 2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Bé Thi.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hòa.
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Ngày 14 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2023/TLST- DS ngày 30 tháng 3 năm 2023 về việc “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2023; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông H, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện S, tỉnh An Giang.
Bị đơn:
- Ông E, sinh năm 1982;
- Bà V, sinh năm 1987;
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện S, tỉnh An Giang.
(Có mặt ông H; vắng mặt ông E, bà V)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông H trình bày:
Ngày 22-4-2022, ông E và bà V có vay của ông số tiền là 50.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 6%/tháng, đóng lãi hàng tháng, thời hạn trả nợ là đến ngày 21-4-2023. Việc vay tiền hai có làm hợp đồng vay tài sản ngày 22-4-2022. Sau khi vay, ông E, bà V không thực hiện việc trả lãi suất theo thỏa thuận và cũng không trả tiền vay gốc cho ông cho đến nay.
Nay ông khởi kiện yêu cầu ông E, bà V liên đới trả cho ông số tiền vay gốc là 50.000.000 đồng, ông yêu cầu tính lãi suất theo quy định của pháp luật là 20%/năm tương đương 1.67%/tháng kể từ ngày vay tiền 22-4-2022 cho đến khi Tòa án xét xử vụ án là ngày 14-7-2023, ông yêu cầu làm tròn là 14 tháng.
Tài liệu, chứng cứ ông H cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là hợp đồng vay tài sản ngày 22-4-2022.
* Đối với bị đơn bà V:
Tại tờ tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bà V thừa nhận bà và ông E (chồng bà) có vay của ông H số tiền 50.000.000 đồng, có làm hợp đồng vay tài sản vào ngày 22-4-2022 do bà và ông E ký tên, ghi họ tên vào mục người nhận tiền. Hai bên lãi suất thỏa thuận là 6%/tháng, bà và ông E có đóng tiền lãi được 7 tháng với số tiền là 21.000.000 đồng nhưng bà không có tài liệu, chứng cứ gì về việc đã đóng lãi nêu trên. Nay bà đồng ý cùng ông E trả số tiền 50.000.000 đồng cho ông H nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên xin được trả dần mỗi tháng 300.000 đồng, trả đến khi hết số nợ 50.000.000 đồng.
* Đối với bị đơn ông E:
Trong quá trình tố tụng ông E đã biết được thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời Tòa án nhân dân huyện S đã triệu tập ông E tham gia phiên họp hai lần hợp lệ; ông E đã biết được yêu cầu khởi kiện của ông H, nhưng ông E vẫn vắng mặt không có lý do, không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của ông H và cũng không có yêu cầu phản tố.
Tại phiên tòa, ông H có mặt; ông E, bà V vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về áp dụng pháp luật tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu trả số tiền vay còn nợ. Bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện S, tỉnh An Giang. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng vay tài sản và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông E, bà V đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu của nguyên đơn: Ông H yêu cầu ông E, bà V liên đới trả cho ông số tiền vay gốc là 50.000.000 đồng. Chứng cứ ông H cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là hợp đồng vay tài sản ngày 22-4-2022 do ông soạn thảo hợp đồng, ông E và bà V ký tên, ghi họ tên vào mục người nhận tiền vay. Sau khi vay, ông E và bà V không thực hiện việc trả lãi suất hàng tháng theo thỏa thuận, cũng không trả tiền vay gốc cho ông H cho đến nay, nay bà V tiếp tục xin được trả dần mỗi tháng 300.000 đồng, trả cho đến khi hết số nợ trên; yêu cầu này của bà V không được ông H đồng ý. Do ông E, bà V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay trong hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận yêu cầu trên của ông H.
Đối với yêu cầu tính lãi suất: Theo hợp đồng vay tài sản ngày 22-4-2022 có thỏa thuận lãi suất. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn bà V thống nhất lãi suất vay theo hợp đồng là 6%/tháng tương đương 72%/năm vượt quá quy định của pháp luật là không quá 20%/năm; trường hợp này các bên thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn 20%/năm nên phần lãi suất vượt quá 20%/năm không có hiệu lực. Tại phiên tòa, ông H yêu cầu tính lãi suất theo quy định của pháp luật là 20%/năm tương đương 1.67%/tháng kể từ ngày vay tiền 22-4-2022 cho đến khi Tòa án xét xử vụ án là ngày 14-7-2023, ông yêu cầu làm tròn 14 tháng; tức là: 50.000.000 đồng x 1.67%/tháng x 14 tháng = 11.690.000 (Mười một triệu sáu trăm chín mươi nghìn) đồng. Đối với yêu cầu này của ông H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với ông E, bà V là bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông E không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa xét xử; ông E, bà V không giao nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc đã đóng lãi suất cho ông H nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông H được chấp nhận nên ông E, bà V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.
1. Buộc ông E và bà V liên đới trả cho ông H số tiền 61.690.000 (Sáu mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi nghìn) đồng; trong đó, số tiền vay gốc là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và số tiền lãi là 11.690.000 (Mười một triệu sáu trăm chín mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, ông H có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền ông E, bà V phải trả cho ông H) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng ông E, bà V còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông E và bà V liên đới chịu 3.084.500 đồng (Ba triệu không trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho ông H số tiền 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011657 ngày 30-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh An Giang.
3. Quyền kháng cáo: Ông H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông E, bà V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; + Nguyên đơn; + Bị đơn; - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện S; - Chi cục THADS huyện S; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Dƣơng Thị Bé Thi |