vanban.org

Bản án 57/2023/DS-ST — Dân sự

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 30/05/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c Khoản 2 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, 147, 271 và 273 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc T đối v i ông Huỳnh Khánh V về việc xác định quyền sở hữu tài sản đối v i số tiền bán căn nhà số XY Đường N, Phường N, thành phố T, tỉnh Long An là 85.436.359 đ ng và tiền l i phát sinh do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T đang quản lý. Bà Lê Thị N… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Lê Thị Ngọc Tr "Tranh chấp quyền sở hữu tài sản" Huỳnh Khánh V"
  • Tòa quyết gì? Căn c Khoản 2 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, 147, 271 và 273 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN AN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2023/DS-ST
Ngày: 30-5-2023
V/v tranh chấp quyền sở hữu tài sản

NHÂN D

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Toàn Vẹn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Hải

Bà Lương Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chăm - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 102/2022/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc T, sinh năm 19XX; cư trú tại: Số XY Đường N, Phường N, thành phố T, tỉnh Long An.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Tạ Văn H, lu t sư thu c Văn phòng Lu t sư Nguyễn Hòa B- Đoàn Lu t sư tỉnh Long An.

Bị đơn: Ông Huỳnh Khánh V, sinh năm 19XY; cư trú tại: Số AB Đường Lê Văn K, Phường N, thành phố T, tỉnh Long An.

Người đại diện hợp pháp của ông V: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 19YZ; cư trú tại: Ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 02/11/2022).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Huỳnh Tấn D, sinh năm 19XX;

Người đại diện hợp pháp của ông D: Bà Lê Thị Ngọc T, sinh năm 19XX; Cùng cư trú tại: Số XY Đường N, Phường N, thành phố T, tỉnh Long An; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 20/7/2022).

2. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Long An; địa chỉ trụ sở: ố 216/3 Quốc l 1, Phường 2, thành phố T, tỉnh Long An.

Người đại diện h p pháp của Chi cục Thi hành án: Ông Đ ng Văn V-Ch c vụ: Chi cục trưởng; là người đại diện theo pháp lu t.

(Bà T, ông H, ông T có mặt; ông V vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08 tháng 4 năm 2021, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 29 tháng 4 năm 2022 và lời trình bày của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc T trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện:

Ngày 28/7/1997, bà Lê Thị Ngọc T đư c đ ng tên quyền sở dụng đất thửa đất số 1143, TBĐ số 3, diện t ch 585m2, loại đất th , tọa lạc x L, thị x T, tỉnh Long An (nay là Phường N, thành phố T). Ngu n gốc đất là do cha của bà T là ông B i Công Đ t ng cho. Trên đất có căn nhà cấp bốn đư c ông Đ cấp vào năm 1994; số nhà 6/396 đường C, x L, thị x T; sau đó đ i lại là số XY Đường N, Phường N, thị x T, tỉnh Long An. Nhà đ đư c Phòng Quản lý đô thị thị x T h p th c hóa ngày 20/5/1995. Đến ngày 09/01/2007, ông Đ c ng v là bà Lê Thị K và con trai B i Công T c ng ký tên trong tờ “Giấy đề nghị Ban Quản lý đô thị thị x T đ i tên đ ng b nhà ở” t ông Đ sang con là Lê Thị Ngọc T. T đó đến nay, Phòng Quản lý đô thị không cấp thêm loại giấy tờ gì, bà T c ng gia đình đăng ký h khẩu c ng gia đình sinh sống tại đây.

Ngày 07/01/2008, bà T c ng ch ng là ông Huỳnh Tấn D có ký h p đ ng chuyển như ng cho ông Huỳnh Khánh V quyền sử dụng đất thửa đất 1143, TBĐ số 3, diện t ch 585m2, loại đất th , tọa lạc x L, thị x T (nay là Phường N, thành phố T) do Ủy ban nhân dân thị x T cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất cho bà T đ ng tên. H p đ ng này có ch ng thực của UBND x L, thị x T (nay là thành phố T), tỉnh Long An.

Khi chuyển như ng đất, trên thửa đất này có căn nhà cấp bốn nhưng do căn nhà chưa đư c cấp giấy ch ng nh n quyền sở hữu nên bà T có yêu cầu ông V trả thêm tiền để mua luôn căn nhà này nhưng ông V không đ ng ý mua nhà c ng như trả thêm tiền. Bà T có nói khi nào ông V cần thì thông báo trư c để bà T sẽ tháo dỡ nhà giao đất cho ông V. Sau khi ông V đư c cấp m i giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất đối v i thửa đất nêu trên (c ng không thể hiện quyền sở hữu căn nhà số XY Đường N, Phường N), ông V đ bảo l nh cho Công ty TNHH Hoàn H vay tiền tại Ngân hàng Thương mại c phần K nhưng không trả đư c n nên Ngân hàng đ khởi kiện và vụ việc đ đư c Tòa án nhân dân Thành phố H Ch Minh giải quyết b ng Quyết định công nh n sự th a thu n của các đương sự số 1680/2009/QĐ T-KDTM ngày 08/9/2009 của TAND thành phố H Ch Minh. T ngày ký h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất cho ông V đến năm 2015, bà T v n sinh sống trên căn nhà này.

au đó, phần đất nêu trên bị phát m i thi hành án. Khi cơ quan thi hành án đến trực tiếp phần đất để thực hiện thủ tục kê biên thì phát hiện căn nhà trên đất không có n m trong giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất do ông V đ ng tên. T năm 2011 đến năm 2015, nhiều lần Chi cục thi hành án dân sự thành phố T th a thu n trực tiếp v i bà T tiến hành ký biên bản th a thu n định giá tài sản, 02 lần ký giảm giá căn nhà để đưa ra bán đấu giá. Khi bán đấu giá thành, Cơ quan thi hành án đ giao nhà và đất cho người mua đư c tài sản, phần giá trị quyền sử dụng đất đ đư c Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T thanh toán cho bên đư c thi hành án, phần còn lại là số tiền bán căn nhà số XY Đường N trị giá 85.436.359 đ ng. Do giữa bà T và ông V không thống nhất đư c chủ sở hữu số tiền này nên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Long An đ giữ số tiền này lại và thông báo các bên đư c khởi kiện ra Tòa án để xác định chủ sở hữu h p pháp, Cơ quan thi hành án sẽ chi trả tiền theo quyết định có hiệu lực pháp lu t của Tòa án.

Ngày 13/10/2016, bà T có khởi kiện tranh chấp quyền sở hữu tài sản số tiền trên đến Tòa án nhân dân thành phố T. Đ ng thời bà T có khiếu nại Quyết định công nh n sự th a thu n số 1680/2009/QĐ T-KDTM ngày 08/9/2009 của Tòa án nhân dân thành phố H Ch Minh theo thủ tục giám đốc thẩm, nhưng kết quả không đư c chấp nh n. Trong thời điểm khiếu nại thì bà T đ rút đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân thành phố T đ ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án vào ngày 26/6/2017.

Ngày 12/10/2017, bà T làm đơn khiếu nại gửi TAND cấp cao tại Tp H Ch Minh. Đến ngày 20/7/2020, TAND cấp cao tại Thành phố H Ch Minh trả lời không có căn c kháng nghị tái thẩm đối v i Quyết định công nh n sự th a thu n số 1680/2009/QĐ T-KDTM ngày 08/9/2009 của TAND thành phố H Ch Minh và hư ng d n bà T thực hiện quyền khởi kiện.

Ngày 21/3/2021, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T ra Thông báo yêu cầu bà T khởi kiện để xác định quyền sở hữu tài sản đối v i số tiền bán căn nhà số XY Đường N mà Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T đang quản lý.

Đến ngày 08/4/2021, bà T khởi kiện lại tại TAND thành phố T yêu cầu Tòa án công nh n cho bà T đư c quyền sở hữu tiền bán căn nhà cấp bốn tại số XY Đường N, Phường N, thành phố T, tỉnh Long An và bà T đư c nh n số tiền bán nhà là 85.436.359 đ ng c ng tiền l i phát sinh do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T đang quản lý.

Bị đơn ông Huỳnh Khánh V do ông Nguyễn Hữu T đại diện trình bày như sau:

Việc chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa v ch ng bà T v i ông V vào năm 2008 là bao g m chuyển như ng cả căn nhà n m trên đất; Do thời điểm đó, m u h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất là m u chung và nếu trong giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất không có ch ng nh n quyền sở hữu nhà thì trong h p đ ng chuyển như ng sẽ không thể hiện có nhà trên đất. Năm 2016, bà T khởi kiện ông V đến TAND thành phố T. Đến ngày 26/6/2017, TAND thành phố T có ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 102/2017/QĐ T-D , quyết định này đ có hiệu lực pháp lu t. Vụ việc này đ đư c đình chỉ nên ông V không đ ng ý yêu cầu khởi kiện của bà T. T lúc cơ quan thi hành án dân sự thành phố T kê biên và giữ lại số tiền nêu trên, ông V không có liên hệ thi hành án xin nh n số tiền này vì ông V đ và đang khiếu nại việc thi hành án kê biên phần đất do ông V đ ng tên đến cơ quan cấp cao ngoài trung ương. Nay bà T khởi kiện, ông V không đ ng ý và xác định số tiền 85.436.359 đ ng và tiền l i phát sinh do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T đang quản lý thu c quyền sở hữu h p pháp của ông V.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Tấn D do bà Lê Thị Ngọc T đại diện trình bày: Ông D là ch ng của bà T, khi ký h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất cho ông V thì ông D c ng có ký tên. Ông D thống nhất yêu cầu khởi kiện của bà T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T có văn bản thể hiện ý kiến như sau:

Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T đ kê biên xử lý quyền sử dụng đất thu c thửa số 1143, tờ bản đ số 3 (số m i là 30, tờ bản đ số 19), có diện t ch 585m2 do ông Huỳnh Khánh V đ ng tên quyền sử dụng đất theo giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số AK 688771, trên đất có căn nhà cấp 4. au khi bán đấu giá thành tài sản nêu trên, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T đ giữ lại tiền giá trị căn nhà cấp bốn là 85.436.359 đ ng và có thông báo cho bà Lê Thị Ngọc T và ông Huỳnh Khánh V quyền khởi kiện ra tòa án để xác định quyền sở hữu h p pháp của mình đối v i giá trị căn nhà cấp 4 trên thửa đất số 30, tờ bản đ số 19. Hiện tại, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T đang quản lý số tiền 85.436.359 đ ng và tiền l i phát sinh do số tiền trên đang gửi tiết kiệm tại Ngân hàng.

Do b n công tác nên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T xin v ng m t tất cả phiên hòa giải và phiên tòa xét xử.

Tòa án đ tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không th a thu n đư c nên vụ án đư c đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn v n giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời trình bày, xác định nguyên đơn không có tranh chấp h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất ngày 07/01/2008 v i bị đơn, nếu hai bên thương lư ng th a thu n đư c thì nguyên đơn đ ng ý h tr bị đơn số tiền 10.000.000 đ ng.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Tạ Văn H trình bày như sau:

Ngu n gốc căn nhà số XY Đường N là bà T đư c cha ru t t ng cho, có văn bản cho nhà, cho đất; có h sơ xây dựng nhà; biên lai n p phạt, s h khẩu đ ng thời bà T ở liên tục đến ngày bà T giao nhà theo yêu cầu của cơ quan thi hành án. H p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất ngày 07/01/2008 giữa hai bên có ch ng thực tại UBND x L lúc đó, ch ng minh chỉ giao dịch chuyển như ng đất, không có bán nhà. Tại quyết định công nh n sự th a thu n số 1680/2009/QĐ T-KDTM ngày 08/9/2009 của TAND thành phố H Ch Minh, các quyết định của cơ quan thi hành án có thẩm quyền c ng đ xác định có thửa đất số 30, TBĐ số 19, không xác định có nhà trên đất.

Vào năm 2016, ông V có đơn khởi kiện hủy h p đ ng bán đấu giá tài sản nhưng TAND thành phố T đình chỉ do ông V không có quyền khởi kiện. Tại đơn kháng cáo, ông V c ng có ý kiến thể hiện r ông V chỉ thế chấp đất, không có thế chấp nhà, nhà trên đất do bà T đang quản lý, sử dụng.

Quá trình xảy ra việc thi hành án, bà T rất t ch cực bảo vệ quyền sở hữu của mình, thể hiện r ràng quyền sở hữu căn nhà số XY là của bà T thể hiện việc bà T đ tham gia đầu đủ các lần định giá, giảm giá; khởi kiện vụ án dân sự theo Thông báo số 238/TB-CCTHA ngày 23/12/2015 vào năm 2016 tại TAND thành phố T; thực hiện quyền khiếu nại đối v i Quyết định công nh n sự th a thu n số 1680/2009/QĐ T-KDTM ngày 08/9/2009 của TAND thành phố H Ch Minh. Trong khi đó, bị đơn có nhiều cơ h i để thể hiện quyền l i đối v i căn nhà như bị đơn nêu nhưng thực tế bị đơn không thực hiện. Ch ng t bị đơn không tha thiết sở hữu tài sản này bởi thì thực tế căn nhà là thu c quyền sở hữu của bà T. Quá trình thi hành án đối v i Quyết định công nh n sự th a thu n số 1680/2009/QĐ T-KDTM ngày 08/9/2009 của TAND thành phố H Chí Minh thể hiện gia đình ông V có nhiều tài sản ch không phải chỉ có thửa đất này; bị đơn cho r ng theo Lu t Nhà ở năm 2005, quyền sở hữu căn nhà này của bị đơn thì bị đơn phải đi làm thủ tục h p th c hóa căn nhà trên đất nhưng bị đơn không làm, c ng không yêu cầu nguyên đơn đưa h sơ nhà mà ngay sau khi nh n chuyển như ng Q D đất t bà T và đư c đ ng tên quyền sử dụng đất thì bị đơn đ đem thế chấp Q D đất này để bảo l nh cho người khác vay tiền tại Ngân hàng, ch ng t bị đơn chỉ có nhu cầu mua đất ch không có nhu cầu mua nhà. Bị đơn đề nghị Tòa án thu th p biên bản kiểm tra và định giá tài sản ngày 14/01/2008 để ch ng minh bị đơn có thế chấp nhà là không cần thiết vì ch nh bị đơn c ng xác định không có thế chấp đất trong đơn kháng cáo ngày 13/6/2016.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn Hữu T trình bày như sau:

Thời điểm bị đơn nh n chuyển như ng đất và nhà ở thu c thửa số 1143, TBĐ số 3 vào năm 2008 t bà Lê Thị Ngọc T thì bị đơn biết r hiện trạng đất và nhà của bà T nên nh n chuyển như ng là nh n chuyển như ng cả đất và nhà trên đất. Do biểu m u h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất tại thời điểm đó không có ghi tài sản khi chưa đư c đ ng tên quyền sở hữu nên trong h p đ ng chuyển như ng không thể hiện có việc mua bán nhà. Do hai bên là bà con hàng xóm quen biết nhau nên sau khi bán đất và nhà xong, bị đơn v n cho nguyên đơn cư trú trên ngôi nhà này. Việc th a thu n mua đất là có cả căn nhà và cho nguyên đơn cư trú lại chỉ th a thu n b ng lời nói mà không có văn bản nào ch ng minh. Thực tế tại địa phương, khi bán đất mà có nhà trên đất là bán cả căn nhà. Trong khi căn nhà này, chiếm diện t ch l n trên phần đất này nếu không mua nhà luôn thì không đảm bảo nhu cầu về quyền sử dụng đất của bị đơn. Bị đơn mua nhà đất xong là thế chấp nên chưa có nhu cầu sử dụng nhà và chưa yêu cầu bà T di dời giao nhà ngay, sau đó phát sinh vụ kiện tranh chấp v i Ngân hàng nên kéo dài. Việc th a thu n thời hạn giao nhà đất giữa hai bên không có văn bản mà chỉ trao đ i miệng qua lại và bị đơn có nói cho ở nhờ m t thời gian. Việc bị đơn không khởi kiện tranh chấp quyền sở hữu tài sản là do điều kiện kinh tế của bị đơn khó khăn.

H p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất ngày 07/01/2008 đến nay v n còn hiệu lu t pháp lu t, không bị hủy ho c cơ quan nào tuyên bố vô hiệu. H p đ ng này đ thực hiện xong, anh V đ đư c cấp giấy CNQ D đất. Bà T không có tranh chấp đối v i h p đ ng này; tại thời điểm chuyển như ng, trên đất đ có căn nhà nhưng bà T chưa đư c cấp giấy CNQ H nhà nên theo pháp lý thì bà T chưa phải là chủ sở hữu nhà. Bà T chỉ là người sở hữu nhà đó khi bà T là người có quyền sử dụng đất thửa 1143. Do đó, khi HĐCN Q D đất không có th a thu n nào khác về căn nhà thì căn nhà c ng thu c quyền sở hữu của anh V. Và thực tế anh V hoàn toàn có thể liên hệ đ ng tên nhà mà không cần có sự đ ng ý của bà T theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 Lu t Nhà ở năm 2005. Tại phiên tòa ngày 30/11/2022, bà T c ng xác nh n bà chỉ có quyền sở hữu căn nhà trên thửa 1143. M t khác, anh V là người phải thi hành án theo quyết định thi hành án số 507 ngày 28/01/2011, quyết định kê biên Q D đất số 34 ngày 21/6/2011, các quyết định trên xác định anh V là người phải thi hành án. Căn c điểm c khoản 2 Điều 47 Lu t Thi hành án dân sự về thanh toán tiền, trả tài sản thi hành án thì sau khi đư c thanh toán tiền cho người đư c thi hành án thì số tiền còn lại đư c trả cho người phải thi hành án, người phải thi hành án là anh V không phải là bà T. Do đó, bị đơn không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát cho rằng:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, H i đ ng xét xử, Thư ký phiên tòa đ tuân thủ đúng quy định của pháp lu t. Các đương sự đ thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T v ng m t và có văn bản đề nghị xét xử v ng m t nên H i đ ng xét xử tiến hành xét xử v ng m t người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định tại Điều 228 B lu t Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn c vào các tài liệu, ch ng c và lời trình bày của các đương sự, bà T khởi kiện yêu cầu công nh n quyền sở hữu số tiền bán căn nhà cấp bốn tại ố XY Đường N, Phường N, thành phố T, tỉnh Long An thu c quyền sở hữu h p pháp của bà T và bà T đư c nh n số tiền bán nhà là 85.436.359 đ ng và tiền l i phát sinh do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T đang quản lý. Bị đơn ông Huỳnh Khánh V trình bày việc chuyển như ng quyền sử dụng đất theo h p đ ng ngày 07/01/2008 giữa v ch ng bà T và ông V là bao g m chuyển như ng cả nhà trên đất nên ông V yêu cầu công nh n số tiền bán nhà trên là sở hữu h p pháp của ông V

Thấy r ng: h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất ngày 07/01/20208 giữa các đương sự chỉ thể hiện chuyển như ng thửa đất 1143, không thể hiện có nhà trên đất. Sau khi chuyển như ng đất xong, bà T v n cư trú, sinh sống liên tục trên căn nhà số XY đến khi cơ quan thi hành án kê biên tài sản, bà T luôn xác định căn nhà trên đất thu c sở hữu của bà. Bị đơn có yêu cầu thu th p biên bản kiểm tra và định giá tài sản ngày 14/01/2008 nhưng Ngân hàng không cung cấp đư c. Bị đơn xác định căn nhà trên là thu c quyền sở hữu của ông nhưng không cung cấp đư c tài liệu, ch ng c ch ng minh bà T chuyển như ng đất bao g m bán cả căn nhà cho ông V nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn c chấp nh n. Bị đơn phải chịu án ph theo quy định của pháp lu t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền: Bà Lê Thị Ngọc T khởi kiện ông Huỳnh Khánh V, cư trú tại Phường N, thành phố T, tỉnh Long An tranh chấp quyền sở hữu tài sản đối v i số tiền 85.436.359 đ ng và tiền l i phát sinh do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T đang quản lý. Căn c khoản 2 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 B lu t Tố tụng dân sự, vụ án thu c thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An.

Về quyền khởi kiện: Ngày 31/3/2021, Chấp hành viên của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T có Thông báo số 239/TB-THADS về việc xác định quyền sở hữu, sử dụng đối v i tài sản. Theo đó thông báo cho ông Huỳnh Khánh V và bà Lê Thị Ngọc T quyền th a thu n phân chia tài sản, khởi kiện tại Tòa án ho c đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối v i tài sản là giá trị căn nhà cấp bốn trên thửa đất số 30, tờ bản đ số 19, tọa lạc Phường N, thành phố T là 85.436.359 đ ng và tiền l i phát sinh. Bà T xác định giữa bà T và ông V không th a thu n đư c việc phân chia tài sản này nên ngày 08/4/2021, bà T n p đơn khởi kiện ra Tòa án là còn thời hạn theo quy định của Lu t Thi hành án dân sự.

[3 Về gi i hạn xét xử sơ thẩm: Bà Lê Thị Ngọc T xác định chỉ tranh chấp v i ông Huỳnh Khánh V về quyền sở hữu tài sản đối v i số tiền 85.436.359 đ ng và tiền l i phát sinh do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T đang quản lý, không tranh chấp vấn đề khác; bị đơn không có yêu cầu phản tố; người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu đ c l p nên căn c Điều 5 của B lu t Tố tụng dân sự, H i đ ng xét xử chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4 Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Các đương sự tranh chấp nhau về quyền sở hữu tài sản đối v i số tiền bán căn nhà số XY Đường N, Phường N, thành phố T, tỉnh Long An là 85.436.359 đ ng và tiền l i phát sinh do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T đang quản lý nên Tòa án xác định Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T là người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan.

[5 Về xét xử v ng m t người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan: Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T có văn bản thể hiện ý kiến và có đề nghị Tòa án xét xử v ng m t nên H i đ ng xét xử xét xử v ng m t Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T là ph h p Điều 228 của B lu t Tố tụng dân sự.

[6 Về thu th p tài liệu, ch ng c theo yêu cầu của đương sự:

au khi ng ng phiên tòa ngày 30 tháng 11 năm 2022, nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu Tòa án h tr thu th p tài liệu ch ng c , cụ thể:

Nguyên đơn đề nghị Tòa án h tr thu th p h sơ xét xử phúc thẩm do có kháng cáo của ông Huỳnh Khánh V đối v i Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 138/2026/QĐ T-D ngày 03/6/2016 của TAND thành phố T. Kết quả TAND tỉnh Long An đ cung cấp tài liệu, ch ng c theo yêu cầu của TAND thành phố T.

Bị đơn đề nghị Tòa án h tr thu th p Biên bản thẩm định và định giá tài sản ngày 14/01/2008 liên quan đến h p đ ng thế chấp ngày 16/01/2008 của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam trư c khi nh n thế chấp quyền sử dụng đất thửa số 30, tờ bản đ số 19 do ông Huỳnh Khánh V đ ng tên để bảo l nh cho Công ty TNHH Hoàn Hảo vay vốn tại Ngân hàng để làm r có hay không có việc ông V thế chấp cả căn nhà số XY Đường N nhưng Ngân hàng trả lời không tìm thấy tài liệu theo các thông tin đ đư c cung cấp nên không thu th p đư c và đại diện bị đơn xác định không yêu cầu Tòa án tiếp tục thu th p tài liệu này.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, H i đ ng xét xử thấy r ng:

Các đương sự trình bày thống nhất như sau:

Bà Lê Thị Ngọc T và ông Huỳnh Khánh V xác định không tranh chấp h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất đối v i thửa đất 1143, tờ bản đ số 3, loại đất: ODT, tọa lạc Phường N, thị x T, tỉnh Long An, đư c UBND x L, thị x T, tỉnh Long An ch ng thực vào ngày 07/01/2008 giữa bên chuyển như ng là ông Huỳnh Tấn D bà Lê Thị Ngọc T và bên nh n chuyển như ng là ông Huỳnh Khánh V.

Thời điểm thực hiện việc chuyển như ng quyền sử dụng đất nêu trên đ t n tại căn nhà cấp 4, diện t ch khoảng 46,5m2, kết cấu như sau: tường gạch, mái ngói, không trần; nền gạch men, móng bê tông cốt thép. Nhà tạm có diện t ch 33,5m2, c t bê tông cốt thép, vách tôn thiếc, nền xi măng; mái tôn thiếc, không trần. Địa chỉ nhà tại số XY Đường N, Phường N, thị x T, tỉnh Long An (nay là thành phố T, tỉnh Long An).

Thửa đất số 1143, tờ bản đ số 3 sau khi bà T chuyển như ng cho ông V đ ng tên quyền sử dụng đất đư c đ i thành thửa m i là thửa số 30, tờ bản đ số 19. Tài sản g m đất và nhà nêu trên đ đư c kê biên để đảm bảo thi hành án cho Quyết định công nh n sự th a thu n số 1680/2009/QĐ T-KDTM ngày 08/9/2009 của TAND thành phố H Ch Minh. Đối v i số tiền bán căn nhà là 85.436.359 đ ng và tiền l i phát sinh t ngày bán đấu thành cho đến nay đư c Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T quản lý do giữa bà T và ông V chưa thống nhất đư c ai là chủ sở hữu h p pháp của căn nhà này.

au khi chuyển như ng quyền sử dụng đất nêu trên cho ông V, bà T v n liên tục quản lý, sử dụng và sinh sống trong căn nhà này cho đến khi cơ quan thi hành án tiến hành kê biên và bàn giao tài sản bán đấu giá cho người mua đư c tài sản vào năm 2015.

Các đương sự không thống nhất như sau:

Nguyên đơn cho r ng khi ký h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất ngày 07/01/2008 chỉ chuyển như ng đất ch không bán nhà căn nhà số XY cho bị đơn, còn bị đơn xác định việc nh n chuyển như ng quyền sử dụng thửa đất 1143 t nguyên đơn là bao g m mua luôn căn nhà nhưng do biểu m u h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất khi đó không có ch trống để ghi thêm thông tin căn nhà nên không thể hiện việc bán nhà trong h p đ ng chuyển như ng. Nguyên đơn cho r ng nguyên đơn không bán nhà cho bị đơn nên nguyên đơn đư c tiếp tục ở trên nhà, khi nào bị đơn thông báo yêu cầu giao đất thì nguyên đơn sẽ di dời nhà và giao phần đất này cho bị đơn. Trái lại, bị đơn cho r ng nguyên đơn sinh sống trên căn nhà số XY là do bị đơn cho nguyên đơn ở nhờ trên căn nhà này m t thời gian. Tất cả lời trình bày nêu trên theo các bên chỉ có th a thu n b ng lời nói, không có tài liệu, văn bản nào ch ng minh cho lời trình bày của các bên.

Xét căn c xác l p quyền sở hữu của bà T đối v i căn nhà số XY Đường N, Phường N, thị x T, tỉnh Long An (số c là 6/396 đường C, x L, thị x T) thấy r ng:

Theo h sơ nhà đất bà T cung cấp xác định sau khi bà T nh n t ng cho quyền sử dụng đất thửa 1143 t cha ru t là ông B i Công Đ vào năm 1997 thì đ có s n căn nhà cấp bốn trên thửa đất này (thể hiện tại Biên bản kiểm tra xây dựng trái phép ngày 10/5/1994, đơn xin phép xây dựng ngày 17/5/1994 do ông B i Công Đ đ ng tên). Đến ngày 09/01/2007, ông Đ c ng v là bà Lê Thị K và con trai là B i Công T c ng thống nhất ký vào văn bản “Giấy đề nghị đ tên đ ng b nhà ở” thể hiện n i dung “nay làm đơn này đề nghị Ban quản lý đô thị đổi tên đứng bộ cho bà Lê Thị Ngọc T. Lý do: trước đây khi cất nhà, miếng đất nền nhà do tôi đứng chủ quyền nên đơn xin và quyết định của cái nhà phải do tôi đứng bộ”. Nay giấy chủ quyền miếng đất của cái nhà đã tách bộ riêng nên tôi xin ban quản lý đô thị chuyển tên cho người ở cái nhà này, để được trọn quyền sử dụng của chủ nhà ở. Kính mong ban quản lý đô thị giúp đỡ để chủ nhà ở được sang tên”. Điều này thể hiện bà T đ xác l p quyền sở hữu của mình đối v i căn nhà cấp bốn nêu trên theo quy định của Điều 170 B lu t Dân sự năm 2005.

Trong suốt quá trình đư c nh n tài sản là căn nhà cấp bốn t ông Đ, bà T có quyền của chủ sở hữu nhà là quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đ ng thời bà T không t b quyền sử hữu đối v i căn nhà này. Việc bà T ký Biên bản để thi hành án kê biên phát m i quyền sử dụng đất và có yêu cầu cơ quan thi hành án xác định bà có quyền sở hữu tại căn nhà số XY (biên bản của cơ quan thi hành án đ thể hiện vấn đề này). Do đó, khi chi trả tiền bán đư c tài sản bán đấu giá thì cơ quan thi hành án đ giữ lại số tiền bán căn nhà và thông báo cho bà T và ông V quyền khởi kiện tranh chấp quyền sở hữu tài sản và bà T đ thực hiện quyền khởi kiện theo quy định của pháp lu t.

M t khác, theo h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất ngày 31/12/2007 có tên bà T và ông V do ph a bị đơn cung cấp cho Tòa án (h p đ ng này không có chữ ký của bà T và ông V) thể hiện n i dung chuyển như ng quyền sử dụng đất thửa 1143 và căn nhà trên đất v i giá trị là 600.000.000 đ ng, giá trị này b ng v i giá trị h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất ngày 07/01/2008 có ch ng thực của Ủy ban nhân dân x L, thị x T. Bà T trình bày nếu bán cả căn nhà thì phải trả thêm tiền nhưng ph a ông V không đ ng ý. Do đó, H p đ ng xác l p ngày 07/01/2008 giữa các bên v i giá 600.000.000 đ ng là chỉ chuyển như ng quyền sử dụng đất mà không có bán căn nhà cấp bốn trên đất. Bị đơn và đại diện của bị đơn cho r ng Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất do bà Lê Thị Ngọc T đ ng tên đối v i thửa 1143 không ghi quyền sử hữu căn nhà và H p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất ngày 07/01/2008 là m u chung nên không đủ ch ghi n i dung chuyển như ng quyền sử dụng đất và căn nhà cấp bốn trên đất là không ch nh xác vì tại Điều 7 của H p đ ng này có nhiều dòng trống để ghi điều khoản khác giữa các bên nhưng thực tế không thể hiện n i dung gì khác. Trình bày của nguyên đơn và n i dung của H p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất l p ngày 07/01/2008 thể hiện chỉ chuyển như ng quyền sử dụng đất mà không bán quyền sở hữu căn nhà trên đất là ph h p v i ý ch của các bên tại thời điểm xác l p giao dịch khi đó. Hơn nữa, ngay sau khi nh n chuyển như ng quyền sử dụng đất và đư c đ ng tên Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất thì ông V đ thế chấp ngay cho Ngân hàng để bảo l nh cho người khác vay vốn. Điều này thể hiện bị đơn chỉ có nhu cầu nh n chuyển như ng quyền sử dụng đất, không có nhu cầu mua nhà để sử dụng như bị đơn đ trình bày. Bị đơn cho r ng sau khi nh n chuyển như ng đất và nhà thì bị đơn đ cho nguyên đơn ở nhờ nhưng bị đơn c ng không có ch ng c gì ch ng minh cho lời trình bày này.

Như v y, ông V không có tài liệu, ch ng c ch ng minh ông V đ xác l p quyền sở hữu đối v i căn nhà số XY Đường N thông qua việc nh n chuyển như ng quyền sử dụng đất thửa 1143 bao g m cả việc mua bán đối v i căn nhà trên đất thu c quyền sở hữu của bà Lê Thị Ngọc T; còn bà T có ch ng c ch ng minh bà đ xác l p quyền sở hữu h p pháp và không t b quyền sở hữu đối v i căn nhà này đ ng thời các đương sự c ng xác định không có tranh chấp đối v i h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất ngày 07/01/2008.

Căn c kết quả bán đấu giá thành ngày 17/8/2015 và thông báo của cơ quan thi hành án dân sự, giá trị căn nhà số XY Đường N, Phường N, thành phố T sau khi báo đấu giá thành đư c Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T quản lý là 85.436.359 đ ng và hiện đang gửi tiết kiệm.

T các căn c nêu trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn c nên đư c H i đ ng xét xử chấp nh n.

[9 Phát biểu của lu t sư bảo vệ quyền và l i ch h p pháp của nguyên đơn là có căn c nên đư c chấp nh n.

Về án ph dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án ph không giá ngạch theo Điều 147 BLTTDS, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn c .

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c Khoản 2 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, 147, 271 và 273 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 170, 171 B lu t Dân sự năm 2005; Điều 237, 239 B lu t Dân sự năm 2015; Điều 74 Lu t Thi hành dân sự (đư c sửa đ i, b sung năm 2014); Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i quy định về m c thu, miễn giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án ph lệ ph Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc T đối v i ông Huỳnh Khánh V về việc xác định quyền sở hữu tài sản đối v i số tiền bán căn nhà số XY Đường N, Phường N, thành phố T, tỉnh Long An là 85.436.359 đ ng và tiền l i phát sinh do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T đang quản lý.

Bà Lê Thị Ngọc T đư c quyền sở hữu và đư c quyền nh n số tiền bán căn nhà số XY Đường N, Phường N, thành phố T, tỉnh Long An là 85.436.359 đ ng và tiền l i phát sinh do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Long An đang quản lý.

2. Về án ph dân sự sơ thẩm:

- Ông Huỳnh Khánh V phải chịu 300.000 đ ng sung ngân sách Nhà nư c;

- Bà Lê Thị Ngọc T không phải chịu án ph , hoàn trả cho bà T số tiền tạm ng án ph là 300.000 đ ng theo biên lai thu tạm ng án ph , lệ ph Tòa án số 0001548 ngày 10/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Long An.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có m t có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án, đương sự v ng m t đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày bản án đư c tống đạt h p lệ.

Cỡ chữ