vanban.org

Bản án 57/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 24/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "KSƠR Y KH - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2022/HS-ST.
Ngày: 24-8-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1, Ông Vũ Xuân Thụ.

2, Ông Hoàng Tuyển.

-Thư ký phiên toà: Ông Phan Việt Tiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên toà: Ông Ksơr Y Kơn – Kiểm sát viên.

Ngày 24/8/2022 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2022/TLST-HS ngày 01/8/2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2022/QĐST-HS ngày 10/8/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ksơr Y Kh; sinh năm 2000; tại: Tỉnh Đăk Lăk; nơi đăng ký NKTT và nơi cư trú: Buôn H 1, xã E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 5/12; giới tính: Nam; dân tộc: Ê đê; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nay Y J, sinh năm 1970 và bà Ksơr H’L, sinh năm 1977; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/5/2022, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại:

Ông Đỗ Văn R, sinh năm 1954; Nơi cư trú: Buôn H 1, xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.

Anh Rcăm Y Nh, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Buôn H 1, xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.

Chị Ksơr H’M, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Buôn H 2, xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Kpă Y Th, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Buôn H 1, xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.

Chị Ksơr H’V, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Buôn H 2, xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.

Chị Đặng Thị Kim Ng, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Buôn H 1, xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.

Anh Lê Đức H, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Buôn H 2, xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.

Người phiên dịch: Bà H’Uyên Ayun - Ủy viên thường trực mặt trận tổ quốc huyện.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 23 giờ 00 ngày 08/3/2022, Ksơr Y Kh đi bộ dọc theo đường liên xã thuộc Buôn H 1, xã E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk tìm nhà người dân nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến nhà ông Đỗ Văn R, sinh năm 1954, trú tại: Buôn H 1, xã E, huyện H, thì thấy cửa nhà không khóa, Y Kh đột nhập vào trong nhà của ông R để tìm tài sản trộm cắp. Khi vào trong nhà Y Kh thấy ông R đang nằm ngủ, bên cạnh để 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A12 màu đen, Y Kh lấy trộm chiếc điện thoại rồi bỏ đi. Đến ngày 09/3/2022, Y Kh đem chiếc điện thoại di động trộm cắp được của ông Đỗ Văn R đến tiệm điện thoại Đức H do anh Lê Đức H, sinh năm 1988, trú tại: Buôn H 2, xã E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk làm chủ cầm với số tiền 1.000.000 đồng, số tiền này Y Kh đã sử dụng vào việc tiêu xài cá nhân. Ngày 11/3/2022, khi Cơ quan Công an triệu tập làm việc Ksơr Y Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Quá trình điều tra, Ksơr Y Kh khai nhận ngoài lần trộm cắp tài sản nêu trên thì Y Kh còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 23 giờ 00 một ngày cuối tháng 11/2021 (không rõ ngày cụ thể), Ksơr Y Kh đi bộ lang thang tại Buôn H 1, xã E tìm nhà dân sơ hở để đột nhập trộm cắp tài sản. Khi đến nhà anh Rcăm Y Nh, sinh năm 1995, tại Buôn H 1, xã E, huyện H thì Y Kh trèo qua cửa sổ đột nhập vào nhà lấy trộm 02 chiếc điện thoại di động của anh Y Nh gồm: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12S, màu xanh bạc để ở trong giỏ nhựa treo trên vách ván gỗ trong phòng ngủ và 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y1S, màu xanh đen để ở trên khúc gỗ trong phòng khách. Khoảng 03 ngày sau, Y Kh đem chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12S màu xanh bạc đến tiệm cầm đồ Bảo do chị Đặng Thị Kim Ng, sinh năm 1996 ở Buôn H 1, xã E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk làm chủ cầm số tiền 1.000.000 đồng và đem chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen bán cho Kpă Y Th, sinh năm 1997, trú tại: Buôn H 1, xã E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk được số tiền 800.000 đồng. Tất cả số tiền trên Y Kh đã tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 23 giờ 00 ngày 06/3/2022 Ksơr Y Kh đi uống rượu tại Buôn H 2, xã E về, khi đi ngang qua nhà chị Ksơr H’M, sinh năm 2003, tại Buôn H 2, xã E, huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk thì Y Kh nhìn qua cửa sổ thấy trong nhà có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y1S màu xanh đen đang để ở trên tivi trong phòng khách. Sau đó Y Kh trèo qua cửa sổ vào trong nhà chị Ksơr H’ M và lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo Y1S, màu xanh đen đang để ở trên tivi trong phòng khách. Ngày 09/3/2022, Y Kh đem chiếc điện thoại di động nêu trên đến tiệm cầm đồ Bảo cầm cố lấy số tiền 800.000 đồng, số tiền trên Y Kh đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 11/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đưa Ksơr Y Kh đến xác định lại địa điểm nơi Y Kh lấy trộm tài sản là tại nhà chị Ksơr H’ M thuộc Buôn H 2, xã E, huyện H; nhà anh Rcăm Y Nh thuộc Buôn H 1, xã E, huyện H và tại nhà ông Đỗ Văn R thuộc Buôn H 2, xã E, huyện H.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 229/KL-HĐĐGTS ngày 06/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ea H’Leo, kết luận:

+ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A12 màu đen, tại thời điểm định giá ngày 08/3/2022 có giá trị là 2.500.000 đồng.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12S, màu xanh bạc, tại thời điểm định giá tháng 11/2021 có giá trị 1.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y1S, màu xanh đen, tại thời điểm định giá tháng 11/2021 có giá trị là 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản cần định giá là 2.500.000 đồng.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y1S màu xanh đen, tại tời điểm định giá ngày 06/3/2022 có giá trị là 1.000.000 đồng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung tại bản cáo trạng số 47/CT-VKS, ngày 29/7/2022 truy tố bị cáo Ksơr Y Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ksơr Y Kh mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Cần chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã giao trả 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A12 màu đen cho Đỗ Văn R; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12S, màu xanh bạc và 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y1S, màu xanh đen cho anh Rcăm Y Nh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y1S màu xanh đen cho chị Ksơr H’ M là các chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Cần chấp nhận việc bị hại ông R, anh Y Nh, chị H’M và người liên quan anh Y Th, anh H, chị Ng, chị H’V không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không tranh luận gì với lời luận tội của kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết được việc làm của bị cáo là sai trái, bị cáo xin Hội đồng xét xử tha cho bị cáo để bị cáo có điều kiện làm người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về nội dung: Từ tháng 11/2021 đến ngày 08/3/2022, Ksơr Y Kh đã có hành vi lén lút thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản gồm: Lần 1 trộm cắp của ông Đỗ Văn R 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A12; lần 2 trộm cắp của anh Rcăm Y Nh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12S, màu xanh bạc và 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y1S, màu xanh đen và lần 3 trộm cắp của chị Ksơr H’M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y1S màu xanh đen. Tổng giá trị tài sản được xác định là 6.000.000 đồng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ nhận thức để biết được việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Thế nhưng do động cơ tham lam, tư lợi, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo đối với bị cáo Ksơr Y Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại Điều luật này quy định như sau:

1. “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...”

Xét thấy, trong một thời gian ngắn mà bị cáo đã gây ra 03 lần trộm cắp tài sản, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, cần áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm trừng trị, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ý thức chấp hành pháp luật. Ngoài ra, còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo đã tự thú khai ra những lần phạm tội trước đó; tài sản trộm cắp có giá trị không lớn và đã hoàn trả cho chủ sở hữu; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số có học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật có phần hạn chế và gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Hội đồng xét xử cần cân nhắc, xem xét.

Đối với anh Lê Đức H, chị Đặng Thị Kim Ng là những người cầm cố điện điện thoại của Y Kh và anh Kpă Y Th và chị Ksơr H’Vlà những người mua điện thoại của Y Kh, nhưng do không biết đó là tài sản trộm cắp nên không có căn cứ xử lý.

. Về xử lý vật chứng: Cần chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã giao trả 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A12 màu đen cho Đỗ Văn R; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12S, màu xanh bạc và 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y1S, màu xanh đen cho anh Rcăm Y Nh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y1S màu xanh đen cho chị Ksơr H’ M là các chủ sở hữu hợp pháp.

. Về trách nhiệm dân sự: Ông R, anh Y Nh, chị H’M và người liên quan anh Y Th, anh H, chị Ng, chị H’V không yêu cầu bồi thường, nên không đề cập giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

-Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Ksơr Y Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

-Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Ksơr Y Kh 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện hoặc bắt thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã giao trả 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A12 màu đen cho Đỗ Văn R; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12S, màu xanh bạc và 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y1S, màu xanh đen cho anh Rcăm Y Nh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y1S màu xanh đen cho chị Ksơr H’ M là các chủ sở hữu hợp pháp.

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ksơr Y Kh phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ