vanban.org

Bản án 57/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 20/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Sùng Mí T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Sùng Mí T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 12/11/2021. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng Mí T - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sùng Mí T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2022/HS-ST
Ngày 20 – 01 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thanh Ngọc.

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Hợi và bà Nguyễn Thị Liên.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Vũ Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 20/01/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2022/HSST ngày 07 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Sùng Mí T, sinh ngày 26/01/2003.

HKTT: Thôn Lùng Ngòa, xã G, huyện B, tỉnh Hà Giang.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Sùng A L, sinh năm 1972 (đã chết) và bà Giàng Thị K, sinh năm 1974; Vợ, con: Chưa có

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/11/2021 đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa của bị cáo Thò: Bà Đặng Thị H – Trợ giúp viên pháp lý,

Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

Bị hại: Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1993; HKTT: Khu Thượng, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ, ngày 11/11/2021 Sùng Mí T, sinh ngày 26/01/2003; HKTT: Thôn Lùng Ngòa, xã G, huyện B, tỉnh Hà Giang đi bộ lang thang một mình tại khu Thượng, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh với mục đích xe ai sơ hở tài sản sẽ trộm cắp. T đi qua cửa hàng điện thoại HG mobile của anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khu Thượng, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh thấy trong cửa hàng chỉ có một mình anh Tr tại cửa hàng nên T quay lại cửa hàng này với mục đích cướp giật điện thoại tại cửa hàng. Khi T vào cửa hàng HG mobile, T có yêu cầu anh Trung cho xem điện thoại để mua. T xem khoảng hai đến ba chiếc điện thoại và quan sát xung quanh thấy không có ai liền cầm chiếc điện thoại bỏ chạy về khu đất giãn dân thuộc khu Thượng, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Anh Tr và chị H thấy vậy liền đuổi theo và hộ “Cướp, cướp”. Lúc này tổ tuần tra phòng chống tội phạm Công an phường K tuần tra trên địa bàn phối hợp cùng với quần chúng nhân dân bắt giữ được T và thu giữ vật chứng: 01 chiếc điện thoại Vivo Y15 màu xanh dương.

Bản kết luận định giá số 205/KL-HĐ ngày 16/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y15, màu xanh dương đã qua sử dụng, trị giá là 2.600.000 đồng.

Quá trình điều tra T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 09/CT-VKSTPBN ngày 07 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố Sùng Mí T về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Quá trình xét hỏi tại phiên toà, bị cáo Sùng Mí T khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” là đúng.

Bị hại anh Nguyễn Văn Tr vắng mặt tại phiên tòa. Tại đơn xin xét xử vắng mặt anh Trung xác nhận đã nhận lại đầy đủ tài sản nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên Cáo trạng truy tố Sùng Mí T về tội “Cướp giật tài sản” đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Khoản 1, Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Sùng Mí T từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Không.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

- Ý kiến bị cáo: Bị cáo nhất trí với phần luận tội về tội danh và hình phạt.

- Người bào chữa của bị cáo trình bày bản luận cứ: Về tội danh VKS truy tố bị cáo Sùng Mí T về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật. Bị cáo là người dân tộc thiểu số và nghỉ học từ sớm nên có sự hạn chế về mặt xã hội và pháp luật. Do tình hình dịch Covid bị cáo không còn việc làm, thu nhập dẫn đến việc vi phạm pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

- Lời nói sau cùng của bị cáo Thò: Bị cáo đã ăn năn về hành vi của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm quay về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với không gian, phù hợp với thời gian, địa điểm, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thấy khoảng 22 giờ 10 phút ngày 11/11/2021 tại cửa hàng điện thoại HG Mobile tại khu Thượng, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh Sùng Mí T có hành vi cướp giật 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y15 màu xanh dương trị giá 2.600.000 đồng của anh Nguyễn Văn Tr mục đích bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Vậy, cáo trạng truy tố số 09/CT-VKSTPBN ngày 07 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Sùng Mí T về tội Cướp giật tài sản theo khoản 1 Điều 171 BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ.

Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo HĐXX xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa, chống tội phạm chung. Tuy nhiên, khi lượng hình HĐXX xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo T đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo Thò hưởng mức án thấp nhất là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập và tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn Tr đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Về tang vật chứng: Ngày 16/11/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả lại anh Trung chiếc di động nhãn hiệu Vivo Y15 màu xanh dương. Đây là tài sản hợp pháp của người bị hại nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả lại là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Sùng Mí T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Áp dụng Khoản 1, Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Xử phạt bị cáo Sùng Mí T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 12/11/2021. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

- Về vật chứng: Không

- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.

Cỡ chữ